New Zealand sẽ công bố tăng trưởng quý 2 vào cuối ngày thứ Tư, hoặc đầu ngày thứ Năm tùy thuộc vào vị trí của bạn so với đường đổi ngày quốc tế, và dự báo là 0,1% cho quý này, giảm từ 0,8% trong ba tháng đầu năm.
Số liệu hàng năm được dự báo sẽ đi theo hướng ngược lại, lên 2,3% từ 1,5%, vì các quý được dùng để so sánh yếu hơn những quý thay thế chúng. Vì vậy, cùng một báo cáo sẽ cho thấy tăng trưởng chững lại và tăng trưởng tăng lên gần một điểm phần trăm, và cả hai số liệu đều sẽ chính xác.
Số liệu tăng trưởng tác động đến NZD/USD thông qua Ngân hàng Dự trữ New Zealand (RBNZ), cơ quan đã đưa Lãi suất tiền mặt chính thức (OCR) lên 2,75% vào ngày 2 tháng 9 khi lạm phát ở mức 4,1% và cho rằng nền kinh tế đang phục hồi. Đây là số liệu cứng đầu tiên đứng sau nhận định đó. Fed đã nâng lãi suất của mình lên 3,75%-4,00% vào thứ Tư và ám chỉ sẽ còn một đợt tăng nữa, điều này đã khiến lãi suất Mỹ cao hơn New Zealand hơn một điểm phần trăm.
NZD/USD giao dịch ngay trên 0,5700, mức thấp nhất kể từ đầu tháng 7, với mức cao trong phiên vẫn dưới 0,5800. Đà giảm bắt đầu từ mức cao cuối tháng 8 ngay dưới 0,6000 và kể từ đó là chuỗi các đỉnh thấp dần. Cặp tiền này nằm dưới cả Đường trung bình động hàm mũ (EMA) 50 ngày và 200 ngày, vốn đã hội tụ gần 0,5850 và cặp tiền chưa giao dịch trên đó kể từ đầu tháng 9.
Chỉ báo sức mạnh tương đối ngẫu nhiên hàng ngày (Stoch RSI), một thước đo động lượng, đang ở đáy của biên độ, nơi nó từng đứng lần cuối trong đợt bán tháo tháng 6 đã kéo cặp tiền xuống ngay trên 0,5600.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một quốc gia đo lường tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một quý. Các số liệu đáng tin cậy nhất là các số liệu so sánh GDP với quý trước, ví dụ: Quý 2 năm 2023 so với Quý 1 năm 2023 hoặc với cùng kỳ năm trước, ví dụ: Quý 2 năm 2023 so với Quý 2 năm 2022. Các số liệu GDP theo quý được tính theo năm sẽ ngoại suy tốc độ tăng trưởng của quý như thể tốc độ này không đổi trong suốt phần còn lại của năm. Tuy nhiên, những số liệu này có thể gây hiểu lầm nếu các cú sốc tạm thời tác động đến tăng trưởng trong một quý nhưng không có khả năng kéo dài cả năm - chẳng hạn như đã xảy ra trong quý đầu tiên của năm 2020 khi đại dịch covid bùng phát, khi tăng trưởng giảm mạnh.
Kết quả GDP cao hơn thường là tích cực cho đồng tiền của một quốc gia vì nó phản ánh nền kinh tế đang phát triển, có nhiều khả năng sản xuất hàng hóa và dịch vụ có thể xuất khẩu, cũng như thu hút đầu tư nước ngoài cao hơn. Tương tự như vậy, khi GDP giảm, thường là tiêu cực cho đồng tiền. Khi nền kinh tế tăng trưởng, mọi người có xu hướng chi tiêu nhiều hơn, dẫn đến lạm phát. Ngân hàng trung ương của quốc gia đó sau đó phải tăng lãi suất để chống lại lạm phát với tác dụng phụ là thu hút thêm dòng vốn từ các nhà đầu tư toàn cầu, do đó giúp đồng tiền địa phương tăng giá.
Khi nền kinh tế tăng trưởng và GDP tăng, mọi người có xu hướng chi tiêu nhiều hơn dẫn đến lạm phát. Ngân hàng trung ương của quốc gia sau đó phải đưa ra lãi suất để chống lại lạm phát. Lãi suất cao hơn là tiêu cực đối với Vàng vì làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ Vàng so với việc gửi tiền vào tài khoản tiền gửi bằng tiền mặt. Do đó, tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn thường là yếu tố giảm giá đối với giá Vàng.