Đồng euro (EUR) giao dịch trong biên độ hẹp quanh mức 1,1485 so với đồng đô la Mỹ (USD) trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Sáu. Cặp tiền tệ chính đi ngang sau khi ghi nhận mức thấp mới trong sáu tuần gần 1,1456 khi nhà đầu tư nhìn xa hơn các quyết định lãi suất diều hâu của cả Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Cục Dự trữ Liên bang (Fed).
Tuần trước, ECB đã nâng lãi suất chính sách chủ chốt thêm 25 điểm cơ bản (bps), đúng như dự kiến, nhằm đối phó với áp lực lạm phát gia tăng. ECB vẫn cho rằng rủi ro lạm phát nghiêng về phía tăng, nhưng chưa có bằng chứng đáng kể về tác động lạm phát vòng hai. Tuy nhiên, thị trường tài chính đã nâng kỳ vọng ECB tiếp tục tăng lãi suất trong bối cảnh giá năng lượng cao hơn.
Các chiến lược gia tại UOB Group nhấn mạnh sự định giá lại mạnh ở phần đầu của đường cong lợi suất châu Âu, lưu ý rằng, theo Bloomberg, "các thị trường tiền tệ hiện đã định giá đầy đủ bốn đợt tăng lãi suất 25 bps của ECB trong 12 tháng tới.
Trong tuần này, đồng đô la Mỹ vượt trội khi Fed chấm dứt chuỗi giữ nguyên kéo dài năm cuộc họp và nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản (bps) lên phạm vi 3,75%-4,00%. Fed được kỳ vọng sẽ làm như vậy khi báo cáo Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 cho thấy dấu hiệu lạm phát vẫn dai dẳng.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê tuần này. Đô la Mỹ mạnh nhất so với Đồng Yên Nhật.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | 0.99% | 1.19% | 2.60% | 0.92% | 0.51% | 1.63% | 1.04% | |
| EUR | -0.99% | 0.18% | 1.57% | -0.06% | -0.45% | 0.64% | 0.05% | |
| GBP | -1.19% | -0.18% | 1.39% | -0.25% | -0.65% | 0.46% | -0.16% | |
| JPY | -2.60% | -1.57% | -1.39% | -1.64% | -2.06% | -0.99% | -1.57% | |
| CAD | -0.92% | 0.06% | 0.25% | 1.64% | -0.38% | 0.71% | 0.09% | |
| AUD | -0.51% | 0.45% | 0.65% | 2.06% | 0.38% | 1.11% | 0.51% | |
| NZD | -1.63% | -0.64% | -0.46% | 0.99% | -0.71% | -1.11% | -0.62% | |
| CHF | -1.04% | -0.05% | 0.16% | 1.57% | -0.09% | -0.51% | 0.62% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Fed cũng thừa nhận áp lực giá vẫn cao hơn trong thời gian dài và phát tín hiệu ít nhất một đợt tăng lãi suất nữa trong năm nay.
Các nhà phân tích tại UOB Group nhấn mạnh rằng "biểu đồ Dot Plot cập nhật và Tóm tắt Dự báo Kinh tế mới nhất của FOMC cho thấy quỹ đạo chính sách diều hâu hơn." Họ lưu ý rằng, dựa trên quan điểm trung vị, "Dot Plot hiện cho thấy lãi suất quỹ liên bang ở mức 4,1% vào cuối năm 2026 (trước đó là 3,8%, trong cuộc họp FOMC tháng 6) và sau đó giữ nguyên cho năm 2027 (trước đó là 3,6%, tức kỳ vọng cắt giảm lãi suất vào năm 2027 trong cuộc họp FOMC tháng 6), và ở mức 3,9% vào cuối năm 2028 (trước đó là 3,4%, trong cuộc họp FOMC tháng 6) trước khi FFTR chạm mức dài hạn khoảng 3,2% (tăng từ 3,1% trong cuộc họp FOMC tháng 6)." UOB cho rằng hồ sơ này nhấn mạnh sự dịch chuyển rõ ràng sang lập trường duy trì lãi suất cao hơn trong thời gian dài hơn của Mỹ.

Trên biểu đồ ngày, EUR/USD giao dịch ở mức 1,1485, duy trì sắc thái giảm giá trong ngắn hạn khi giá giao ngay vẫn nằm dưới đường Trung bình Động Hàm mũ (EMA) 20 kỳ tại 1,1564. Việc cặp tiền này không thể giành lại đường EMA ngắn hạn này cho thấy các nhịp tăng hiện vẫn bị hạn chế, trong khi Chỉ báo sức mạnh tương đối (RSI) ở mức 36,8 vẫn chỉ cao hơn vùng quá bán một chút, hàm ý áp lực giảm giá còn kéo dài nhưng vẫn có dư địa để tích luỹ thay vì sụp đổ ngay lập tức.
Ở chiều tăng, kháng cự ban đầu nằm tại đường EMA 20 kỳ ở 1,1564, và cần một cú phá vỡ bền vững lên trên rào cản này để làm dịu xu hướng giảm giá hiện tại và cho phép phục hồi đáng kể hơn. Ở chiều giảm, mức thấp trong sáu tuần gần 1,1460 là mức hỗ trợ then chốt.
(Phân tích kỹ thuật của bài viết này được viết với sự hỗ trợ của một công cụ AI. Tìm hiểu thêm.)
Ngân hàng trung ương có nhiệm vụ chính là đảm bảo giá cả ổn định ở một quốc gia hoặc khu vực. Các nền kinh tế liên tục phải đối mặt với lạm phát hoặc giảm phát khi giá của một số hàng hóa và dịch vụ nhất định biến động. Giá cả tăng liên tục đối với cùng một loại hàng hóa có nghĩa là lạm phát, giá cả giảm liên tục đối với cùng một loại hàng hóa có nghĩa là giảm phát. Nhiệm vụ của ngân hàng trung ương là giữ cho nhu cầu phù hợp bằng cách điều chỉnh lãi suất chính sách của mình. Đối với các ngân hàng trung ương lớn nhất như Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) hoặc Ngân hàng trung ương Anh (BoE), nhiệm vụ là giữ lạm phát ở mức gần 2%.
Ngân hàng trung ương có một công cụ quan trọng để tăng hoặc giảm lạm phát, đó là điều chỉnh lãi suất chính sách chuẩn, thường được gọi là lãi suất. Vào những thời điểm được thông báo trước, ngân hàng trung ương sẽ ban hành một tuyên bố về lãi suất chính sách của mình và đưa ra lý do bổ sung về lý do tại sao họ vẫn giữ nguyên hoặc thay đổi (cắt giảm hoặc tăng lãi suất). Các ngân hàng địa phương sẽ điều chỉnh lãi suất tiết kiệm và cho vay của mình cho phù hợp, điều này sẽ khiến mọi người khó hoặc dễ kiếm tiền từ tiền tiết kiệm của mình hoặc các công ty khó vay vốn và đầu tư vào doanh nghiệp của mình. Khi ngân hàng trung ương tăng đáng kể lãi suất, điều này được gọi là thắt chặt tiền tệ. Khi ngân hàng trung ương cắt giảm lãi suất chuẩn, điều này được gọi là nới lỏng tiền tệ.
Một ngân hàng trung ương thường độc lập về mặt chính trị. Các thành viên của hội đồng chính sách ngân hàng trung ương phải trải qua một loạt các hội đồng và phiên điều trần trước khi được bổ nhiệm vào một ghế trong hội đồng chính sách. Mỗi thành viên trong hội đồng đó thường có một niềm tin nhất định về cách ngân hàng trung ương nên kiểm soát lạm phát và chính sách tiền tệ tiếp theo. Các thành viên muốn có một chính sách tiền tệ rất lỏng lẻo, với lãi suất thấp và cho vay giá rẻ, để thúc đẩy nền kinh tế đáng kể trong khi vẫn hài lòng khi thấy lạm phát chỉ cao hơn 2% một chút, được gọi là 'bồ câu'. Các thành viên muốn thấy lãi suất cao hơn để thưởng cho tiền tiết kiệm và muốn duy trì lạm phát mọi lúc được gọi là 'diều hâu' và sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi lạm phát ở mức hoặc thấp hơn một chút là 2%.
Thông thường, có một chủ tịch hoặc tổng thống điều hành mỗi cuộc họp, cần tạo ra sự đồng thuận giữa phe diều hâu hoặc phe bồ câu và có tiếng nói cuối cùng khi nào thì đưa ra quyết định bỏ phiếu để tránh tỷ lệ hòa 50-50 về việc có nên điều chỉnh chính sách hiện tại hay không. Chủ tịch sẽ có bài phát biểu thường có thể được theo dõi trực tiếp, trong đó lập trường và triển vọng tiền tệ hiện tại được truyền đạt. Một ngân hàng trung ương sẽ cố gắng thúc đẩy chính sách tiền tệ của mình mà không gây ra biến động mạnh về lãi suất, cổ phiếu hoặc tiền tệ của mình. Tất cả các thành viên của ngân hàng trung ương sẽ truyền đạt lập trường của mình tới thị trường trước sự kiện họp chính sách. Vài ngày trước khi cuộc họp chính sách diễn ra cho đến khi chính sách mới được truyền đạt, các thành viên bị cấm nói chuyện công khai. Đây được gọi là thời gian cấm phát biểu.