Theo khảo sát mới nhất của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), kỳ vọng lạm phát khu vực đồng tiền chung châu Âu trong một năm tới dự kiến sẽ giảm nhiệt, nhưng các dự báo dài hạn vẫn giữ ổn định, Reuters đưa tin. Khảo sát với 19.000 người trưởng thành tại 11 quốc gia của lục địa chung cũng cho thấy người tiêu dùng hiện ít bi quan hơn về triển vọng tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Sự giảm kỳ vọng lạm phát ngắn hạn ở khu vực đồng tiền chung châu Âu có khả năng sẽ khiến các nhà hoạch định chính sách của ECB không vội thắt chặt điều kiện tiền tệ. Trong thông báo chính sách tiền tệ tháng này, ECB đã tăng lãi suất chính sách thêm 25 điểm cơ bản (bps).
Sau thông báo chính sách của ECB, các thành viên ban điều hành cũng cho biết ngân hàng trung ương cần làm nhiều hơn để lạm phát trở lại mục tiêu 2%. "Theo quan điểm hiện tại, chúng ta sẽ cần tăng lãi suất thêm nữa để đưa lạm phát trở lại mục tiêu 2% trong trung hạn," nhà hoạch định chính sách của ECB Isabel Schnabel cho biết, theo báo cáo của Econostream vào thứ Năm.
Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) tại Frankfurt, Đức, là ngân hàng dự trữ của Khu vực đồng tiền chung châu Âu. ECB đặt ra lãi suất và quản lý chính sách tiền tệ cho khu vực. Nhiệm vụ chính của ECB là duy trì sự ổn định giá cả, nghĩa là giữ lạm phát ở mức khoảng 2%. Công cụ chính để đạt được mục tiêu này là tăng hoặc giảm lãi suất. Lãi suất tương đối cao thường sẽ dẫn đến đồng Euro mạnh hơn và ngược lại. Hội đồng quản lý ECB đưa ra quyết định về chính sách tiền tệ tại các cuộc họp được tổ chức tám lần một năm. Các quyết định được đưa ra bởi người đứng đầu các ngân hàng quốc gia Khu vực đồng tiền chung châu Âu và sáu thành viên thường trực, bao gồm Thống đốc ECB, Christine Lagarde.
Trong những tình huống cực đoan, Ngân hàng Trung ương Châu Âu có thể ban hành một công cụ chính sách gọi là Nới lỏng định lượng. Nới lỏng định lượng (QE) là quá trình ECB in Euro và sử dụng chúng để mua tài sản – thường là trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu doanh nghiệp – từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác. QE thường dẫn đến đồng Euro yếu hơn. QE là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được mục tiêu ổn định giá cả. ECB đã sử dụng biện pháp này trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2009-2011, năm 2015 khi lạm phát vẫn ở mức thấp một cách ngoan cố, cũng như trong đại dịch covid.
Thắt chặt định lượng (QT) là ngược lại với Nới lỏng định lượng (QE). Nó được thực hiện sau QE khi nền kinh tế đang phục hồi và lạm phát bắt đầu tăng. Trong khi ở QE, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) mua trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp từ các tổ chức tài chính để cung cấp cho họ thanh khoản, thì ở QT, ECB ngừng mua thêm trái phiếu và ngừng tái đầu tư số tiền gốc đáo hạn vào các trái phiếu mà họ đang nắm giữ. Thường thì điều đó là tích cực (hoặc tăng giá) đối với đồng Euro.