Chỉ số Đô la Mỹ (DXY), một chỉ số đo giá trị của Đô la Mỹ (USD) so với rổ sáu loại tiền tệ thế giới, hiện giao dịch gần mức 101,40 trong giờ giao dịch châu Âu đầu ngày thứ Sáu. DXY giảm khi dữ liệu lạm phát mới nhất của Mỹ làm giảm kỳ vọng tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Báo cáo Chỉ số Tâm lý Người tiêu dùng Michigan sẽ là tâm điểm vào cuối ngày thứ Sáu.
Dữ liệu do Cục Phân tích Kinh tế Mỹ (BEA) công bố vào thứ Năm cho thấy Chỉ số giá Chi tiêu Tiêu dùng Cá nhân (PCE) cơ bản, thước đo giá chính của Fed, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm ngoái (YoY) trong tháng 5, so với mức 3,3% trong tháng 4. Mức đọc PCE cơ bản hàng năm là cao nhất kể từ tháng 10 năm 2023.
Thêm vào đó, lạm phát PCE toàn phần tăng lên 4,1% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 5 từ mức 3,8% trong tháng 4. Cả hai con số cơ bản và toàn phần đều phù hợp với kỳ vọng. Theo tháng, PCE tăng 0,4%, thấp hơn mức đồng thuận thị trường là 0,5%.
Thị trường tiếp tục kỳ vọng Fed sẽ phê duyệt tăng lãi suất vào tháng 9, mặc dù họ đã giảm nhẹ khả năng này. Các nhà giao dịch hiện định giá gần 28,9% khả năng tăng ít nhất 25 điểm cơ bản (bps) tại cuộc họp Fed tháng 7, giảm từ 34,2% trong phiên trước, theo công cụ CME FedWatch. Đối với cuộc họp chính sách tháng 9, kỳ vọng tăng lãi suất giảm xuống 60,1% từ 65,7% vào thứ Tư.
Thống đốc Fed New York John Williams cho biết vào thứ Năm rằng mức lãi suất hiện tại đủ để đưa lạm phát trở lại mục tiêu của ngân hàng trung ương. Trong khi đó, Thống đốc Fed Chicago Austan Goolsbee lưu ý rằng có một "tia hy vọng" về lạm phát dịch vụ trong báo cáo lạm phát mới nhất của Mỹ, nhưng áp lực lạm phát cơ bản vẫn còn quá cao và đang có xu hướng đi sai hướng.
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.