Dưới đây là những điều bạn cần biết vào thứ Sáu, ngày 23 tháng 6:
Đô la Mỹ (USD) được hưởng lợi từ bầu không khí thị trường thận trọng vào đầu ngày thứ Sáu và tiếp tục tăng so với các đối thủ chính trong tuần. Trong nửa sau của ngày, Doanh số bán lẻ tháng 4 của Canada sẽ là dữ liệu duy nhất được đưa vào lịch kinh tế. Thị trường chứng khoán và trái phiếu tại Hoa Kỳ (Mỹ) sẽ vẫn đóng cửa để kỷ niệm ngày lễ Juneteenth. Do đó, các nhà đầu tư sẽ chú ý sát sao đến các tiêu đề tin tức từ Trung Đông và các bình luận từ các quan chức ngân hàng trung ương.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê tuần này. Đô la Mỹ mạnh nhất so với Bảng Anh.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | 1.11% | 1.58% | 0.73% | 1.10% | 0.47% | 1.57% | 1.34% | |
| EUR | -1.11% | 0.43% | -0.39% | -0.02% | -0.66% | 0.44% | 0.22% | |
| GBP | -1.58% | -0.43% | -0.98% | -0.45% | -1.09% | 0.01% | -0.22% | |
| JPY | -0.73% | 0.39% | 0.98% | 0.36% | -0.27% | 0.87% | 0.60% | |
| CAD | -1.10% | 0.02% | 0.45% | -0.36% | -0.66% | 0.51% | 0.24% | |
| AUD | -0.47% | 0.66% | 1.09% | 0.27% | 0.66% | 1.11% | 0.89% | |
| NZD | -1.57% | -0.44% | -0.01% | -0.87% | -0.51% | -1.11% | -0.23% | |
| CHF | -1.34% | -0.22% | 0.22% | -0.60% | -0.24% | -0.89% | 0.23% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Bộ Ngoại giao Thụy Sĩ đã thông báo vào đầu ngày rằng các cuộc đàm phán Mỹ-Iran sắp tới sẽ không diễn ra như kế hoạch. Không có lời giải thích chính thức từ phía Mỹ nhưng chuyến đi của Phó Tổng thống JD Vance đã bị hủy sau khi Israel phát động một cuộc tấn công ở miền nam Lebanon. Hãng tin bán chính thức Tasnim của Iran cho biết không có xác nhận rằng các nhà đàm phán Iran sẽ đi tham gia đàm phán, giải thích rằng họ muốn thấy điều kiện về ngừng bắn ở Lebanon trong thỏa thuận tạm thời được thực hiện trước.
Sau khi ghi nhận mức tăng mạnh trong ngày thứ hai liên tiếp vào thứ Năm, Chỉ số USD đã kéo dài đà tăng và chạm mức cao nhất kể từ tháng 5 năm 2025 trên 101,10 vào đầu ngày thứ Sáu. Tại thời điểm viết bài, chỉ số đang giao dịch tăng nhẹ trong ngày ở khoảng 100,90.
Ngân hàng Trung ương Anh duy trì lãi suất ngân hàng ở mức 3,75% sau cuộc họp tháng 6, như dự kiến. Hai thành viên của Ủy ban Chính sách Tiền tệ đã bỏ phiếu ủng hộ việc tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản (bps). Tuy nhiên, GBP/USD vẫn chịu áp lực giảm giá vào thứ Năm và mất khoảng 0,7%. Cặp tiền này gặp khó khăn trong việc phục hồi vào đầu ngày thứ Sáu và giao dịch gần mức 1,3200. Trong khi đó, các diễn biến chính trị tại Vương quốc Anh gây thêm áp lực lên đồng bảng Anh. Theo báo cáo, "Thị trưởng Đảng Lao động Andy Burnham đã mở đường để loại bỏ Thủ tướng Keir Starmer vào thứ Sáu sau khi giành được một ghế quốc hội ở miền bắc nước Anh, một chiến thắng có thể mở ra một đợt bất ổn chính trị mới ở Anh," Reuters cho biết.
EUR/USD giao dịch ở mức thấp nhất kể từ giữa tháng Ba gần 1,1450 trong phiên châu Âu vào thứ Sáu.
Nhà hoạch định chính sách của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) José Luis Escrivá đạt điểm 6,2/10 theo FXS Speechtracker vào thứ Năm, cao hơn đáng kể so với mức trung bình lịch sử 4,8/10, cho thấy lập trường chú ý hơn và hơi diều hâu so với bình thường. Ông nhấn mạnh chi phí năng lượng lan rộng sang dịch vụ và vận tải, cùng với sự không chắc chắn về phục hồi sản lượng dầu và giá dầu, làm nổi bật rủi ro tăng đối với lạm phát khu vực Euro và hỗ trợ kỳ vọng rằng chính sách chưa thể chuyển sang ôn hòa hoàn toàn. Tuy nhiên, những nhận xét này không giúp đồng Euro tăng sức mạnh.
Sự không chắc chắn xung quanh các cuộc đàm phán Mỹ-Iran gây áp lực lên Vàng (XAU/USD) vào thứ Sáu. Sau khi mất hơn 1% vào thứ Năm, XAU/USD tiếp tục giảm trong buổi sáng châu Âu và giao dịch gần 4.150$.
Đồng Yên Nhật tiếp tục suy yếu so với USD vào thứ Năm, với USD/JPY leo lên mức cao nhất kể từ tháng 7 năm 2024 trên 161,80. Cặp tiền điều chỉnh giảm nhẹ nhưng vẫn giữ vững trên 161,00 vào đầu ngày thứ Sáu khi các nhà đầu tư vẫn cảnh giác chờ đợi khả năng can thiệp. Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) Himino cho biết vào thứ Sáu rằng ngân hàng trung ương Nhật Bản có khả năng tiếp tục tăng lãi suất dựa trên các xu hướng kinh tế, giá cả và tài chính. Himino lưu ý rằng biến động tiền tệ có thể ảnh hưởng đến kỳ vọng lạm phát, lạm phát cơ bản, vì vậy họ sẽ tiếp tục theo dõi sát sao các diễn biến.
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.