Dưới đây là những gì bạn cần biết vào thứ Hai, ngày 26 tháng 1
Đồng Yên Nhật (JPY) trở thành tâm điểm vào đầu tuần, sau những tín hiệu từ Thủ tướng Nhật Bản (PM) Sanae Takaichi vào cuối tuần rằng chính phủ có thể can thiệp để hỗ trợ đồng tiền nội địa chống lại những biến động quá mức một chiều.
Những gợi ý về việc can thiệp của Nhật Bản đã củng cố đồng Yên, với cặp USD/JPY giảm thêm về gần 154,00 từ mức cao nhất trong hơn một năm rưỡi là 159,45 được ghi nhận cách đây gần hai tuần.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đồng Yên Nhật (JPY) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đồng Yên Nhật mạnh nhất so với Đô la Mỹ.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.34% | -0.22% | -1.12% | -0.10% | -0.29% | -0.20% | -0.57% | |
| EUR | 0.34% | 0.12% | -0.77% | 0.23% | 0.05% | 0.15% | -0.24% | |
| GBP | 0.22% | -0.12% | -0.88% | 0.11% | -0.07% | 0.02% | -0.35% | |
| JPY | 1.12% | 0.77% | 0.88% | 1.02% | 0.82% | 0.92% | 0.54% | |
| CAD | 0.10% | -0.23% | -0.11% | -1.02% | -0.19% | -0.09% | -0.47% | |
| AUD | 0.29% | -0.05% | 0.07% | -0.82% | 0.19% | 0.09% | -0.27% | |
| NZD | 0.20% | -0.15% | -0.02% | -0.92% | 0.09% | -0.09% | -0.37% | |
| CHF | 0.57% | 0.24% | 0.35% | -0.54% | 0.47% | 0.27% | 0.37% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đồng Yên Nhật từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đô la Mỹ, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho JPY (đồng tiền cơ sở)/USD (đồng tiền định giá).
Trong khi đó, đồng đô la Mỹ (USD) cũng đang hoạt động kém hơn so với các đồng tiền khác trước khi công bố dữ liệu Đơn hàng Hàng hóa Bền lâu của Hoa Kỳ vào tháng 11 lúc 13:30 GMT. Chỉ số Đô la Mỹ (DXY), theo dõi giá trị của đồng bạc xanh so với sáu đồng tiền chính, ghi nhận mức thấp mới trong bốn tháng gần 97,00.
EUR/USD tăng vọt lên gần 1,1900 trong giao dịch mở cửa khi đồng Euro (EUR) tăng, với các vấn đề địa chính trị và căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ (US) và một số quốc gia Liên minh Châu Âu (EU) được giải quyết. Tiến về phía trước, các nhà đầu tư sẽ tập trung vào dữ liệu IFO của Đức cho tháng 1, sẽ được công bố lúc 09:00 GMT.
GBP/USD giao dịch cao hơn một chút gần 1,3670 vào đầu tuần lịch kinh tế nhẹ của Vương quốc Anh (UK). Tâm lý thị trường và kỳ vọng lãi suất của Ngân hàng trung ương Anh (BoE) dự kiến sẽ chi phối đồng bảng Anh (GBP) trong thời gian tới.
USD/CAD tiếp tục giảm về gần 1,3686 trong bối cảnh đồng đô la Mỹ yếu. Kỳ vọng của thị trường về kết quả chính sách tiền tệ của cả Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Ngân hàng trung ương Canada (BoC) vào thứ Tư sẽ là những yếu tố chính điều khiển cặp tiền này.
AUD/USD tiếp cận mức cao nhất trong hơn hai năm là 0,6945 trong bối cảnh đồng đô la Mỹ suy yếu. Trong khi đó, thị trường Úc đóng cửa vào thứ Hai do Ngày Cộng hòa.
Giá vàng tiếp tục chuỗi thắng lợi của mình trong ngày giao dịch thứ sáu vào thứ Hai. Kim loại màu vàng ghi nhận mức cao nhất mọi thời đại mới là 5.111,13$, được thúc đẩy bởi đồng đô la Mỹ yếu. Về mặt kỹ thuật, một đồng đô la Mỹ thấp hơn khiến giá vàng trở thành một lựa chọn hấp dẫn cho các nhà đầu tư.
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.