Đồng đô la Mỹ (USD) bắt đầu tuần chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) với một tín hiệu tiêu cực. Chỉ số đồng đô la Mỹ (DXY), đo lường giá trị của đồng Greenback so với sáu đồng tiền chính, giao dịch thấp hơn 0,4% xuống gần 97,00 trong phiên giao dịch châu Á.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ là yếu nhất so với Đồng Yên Nhật.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.29% | -0.12% | -1.00% | -0.05% | -0.23% | -0.17% | -0.53% | |
| EUR | 0.29% | 0.17% | -0.70% | 0.24% | 0.06% | 0.12% | -0.23% | |
| GBP | 0.12% | -0.17% | -0.84% | 0.07% | -0.10% | -0.05% | -0.40% | |
| JPY | 1.00% | 0.70% | 0.84% | 0.95% | 0.77% | 0.83% | 0.48% | |
| CAD | 0.05% | -0.24% | -0.07% | -0.95% | -0.18% | -0.11% | -0.47% | |
| AUD | 0.23% | -0.06% | 0.10% | -0.77% | 0.18% | 0.06% | -0.29% | |
| NZD | 0.17% | -0.12% | 0.05% | -0.83% | 0.11% | -0.06% | -0.35% | |
| CHF | 0.53% | 0.23% | 0.40% | -0.48% | 0.47% | 0.29% | 0.35% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Các chuyên gia thị trường tin rằng sự xa lánh giữa các đồng minh đang buộc các quốc gia phải giảm bớt sự tiếp xúc với đồng đô la Mỹ và tài sản của Hoa Kỳ, làm tăng sức hấp dẫn của các tài sản an toàn khác.
Mối quan hệ lâu dài của Washington với các đối tác thương mại đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng sau cuộc tranh cãi tuần trước giữa một số quốc gia Liên minh Châu Âu (EU) và Mỹ về tương lai của Greenland.
Nhà điều hành quỹ hưu trí Đan Mạch AkademikerPension cho biết họ sẽ thoái vốn 100 triệu USD khỏi trái phiếu Kho bạc Mỹ. Các nhà phân tích cho biết quỹ này làm như vậy vì tình hình tài chính của chính phủ Mỹ kém trong bối cảnh khủng hoảng nợ, CNBC đưa tin. Quỹ đã làm rõ rằng quyết định này không liên quan trực tiếp đến các tranh chấp đang diễn ra giữa hai nền kinh tế; tuy nhiên, sự rạn nứt đó không làm cho việc đưa ra quyết định trở nên khó khăn hơn.
Trên mặt trận trong nước, các nhà đầu tư đang chờ đợi thông báo chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) vào thứ Tư. Fed dự kiến sẽ giữ lãi suất không thay đổi trong khoảng 3,50%-3,75%.
Trong phiên giao dịch thứ Hai, các nhà đầu tư sẽ tập trung vào dữ liệu Đơn đặt hàng Hàng hóa lâu bền của Mỹ cho tháng 11, sẽ được công bố vào lúc 13:30 GMT.
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.