Đồng đô la Mỹ (USD) kết thúc tuần gần mức thấp nhất trong năm tuần khoảng 97,80, duy trì một tâm lý yếu trong bối cảnh lo ngại rủi ro trên thị trường tài chính. Những lo ngại gia tăng sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa áp đặt thuế 10% lên tám quốc gia châu Âu, điều này sẽ tăng theo thời gian trừ khi Đan Mạch đồng ý bán Greenland cho Mỹ. Tình hình căng thẳng vẫn cao cho đến khi Trump, cùng với Tổng thư ký NATO Mark Rutte, công bố một khung cho một thỏa thuận tương lai liên quan đến Greenland vào thứ Tư.
Ngoài ra, Mỹ đã công bố dữ liệu cập nhật về Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cho quý ba (Q3), điều chỉnh tỷ lệ tăng trưởng hàng năm cho ba tháng kết thúc vào tháng Chín lên 4,4%, tăng từ 4,3% ước tính trước đó.
Quốc gia này cũng đã công bố dữ liệu Chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) cho tháng Mười và tháng Mười Một. Báo cáo cho thấy lạm phát hàng năm đã tăng lên 2,8% trong tháng Mười Một, tăng từ 2,7% trong tháng Mười. Hơn nữa, Chỉ số giá PCE lõi đã tăng 2,8% trong tháng Mười Một, sau khi tăng 2,7% trong tháng Mười, đáp ứng kỳ vọng của thị trường.
DXY đang giao dịch gần mức thấp 97,80 hàng tuần, đạt mức thấp nhất trong năm tuần sau khi các chỉ số S&P Global Purchasing Managers Index (PMIs) sơ bộ của Mỹ cho tháng Giêng thấp hơn mong đợi, với chỉ số sản xuất là 51,9 (dự kiến 52,1) và dịch vụ là 52,5 (dự kiến 52,8).
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ mạnh nhất so với Đồng Euro.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.43% | -0.87% | -1.53% | -0.59% | -0.70% | -0.49% | -0.63% | |
| EUR | 0.43% | -0.44% | -1.14% | -0.16% | -0.27% | -0.06% | -0.20% | |
| GBP | 0.87% | 0.44% | -0.70% | 0.29% | 0.18% | 0.39% | 0.24% | |
| JPY | 1.53% | 1.14% | 0.70% | 1.02% | 0.90% | 1.10% | 0.96% | |
| CAD | 0.59% | 0.16% | -0.29% | -1.02% | -0.12% | 0.09% | -0.04% | |
| AUD | 0.70% | 0.27% | -0.18% | -0.90% | 0.12% | 0.21% | 0.08% | |
| NZD | 0.49% | 0.06% | -0.39% | -1.10% | -0.09% | -0.21% | -0.14% | |
| CHF | 0.63% | 0.20% | -0.24% | -0.96% | 0.04% | -0.08% | 0.14% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
EUR/USD: Các ước tính sơ bộ của Chỉ số người quản lý mua hàng (PMIs) của Ngân hàng Thương mại Hamburg EU (HCOB) có sự trái chiều, khi Chỉ số sản xuất cải thiện lên 49,4 từ 48,8 trong tháng Mười Hai, vẫn nằm trong vùng co hẹp, trong khi PMI dịch vụ là 51,9, giảm từ 52,4. Do đó, PMI tổng hợp giữ ở mức 51,5, thấp hơn một chút so với mức 51,6 dự kiến. Tuần tới, sự chú ý sẽ tập trung vào GDP quý 4 của EU và Đức, cùng với lạm phát của Đức cho tháng Giêng.
GBP/USD đang giao dịch gần khu vực giá 1,3600, mức mà nó chưa đạt được kể từ tháng 9 năm 2025. Trong tháng Mười Hai, Doanh số bán lẻ tăng 0,4% so với tháng trước, vượt qua ước tính giảm 0,1%. Tính theo năm, doanh số đã tăng từ 1,8% lên 2,5%, vượt qua dự báo tăng trưởng 1%. Các chỉ số S&P Global dịch vụ và tổng hợp có kết quả tốt hơn so với số liệu tháng Mười Hai, với sản lượng dịch vụ tăng từ 51,4 lên 54,3, PMI sản xuất đạt 49,4 từ 48,8, và PMI tổng hợp tăng từ 51,4 lên 53,9.
USD/JPY đang giao dịch gần mức thấp hai tuần tại 156,00 sau khi Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) quyết định giữ nguyên các thiết lập chính sách (0,75%) tại cuộc họp chính sách đầu tiên của năm, như đã dự kiến. Trong cuộc họp báo sau cuộc họp, Thống đốc BoJ Kazuo Ueda đã không bình luận về các mức ngoại hối.
AUD/USD đang giao dịch gần 0,6880, đạt mức mà nó chưa chạm tới kể từ tháng 9 năm 2024. Điều này diễn ra khi đồng tiền nặng về hàng hóa tăng vọt giữa những mức cao kỷ lục của Vàng.
Giá vàng đang giao dịch ở mức cao kỷ lục 4.988$ khi những căng thẳng địa chính trị vẫn chưa giảm.