Đô la Mỹ (USD) phục hồi vào thứ Ba sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó trong bối cảnh kỳ vọng vững chắc rằng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) sẽ không cắt giảm lãi suất trong năm nay.
Tính đến thời điểm viết bài, Chỉ số đô la Mỹ (DXY), theo dõi giá trị của Đồng bạc xanh so với sáu loại tiền tệ chính, giao dịch tăng 0,23% lên gần 99,18. DXY đã điều chỉnh về gần 98,94 vào thứ Hai sau khi đạt mức cao mới trong hơn năm tuần ở 99,41 cùng ngày.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ mạnh nhất so với Đô la Úc.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | 0.22% | 0.26% | 0.14% | 0.06% | 0.52% | 0.35% | 0.17% | |
| EUR | -0.22% | 0.05% | -0.04% | -0.15% | 0.32% | 0.15% | -0.04% | |
| GBP | -0.26% | -0.05% | -0.11% | -0.20% | 0.25% | 0.11% | -0.08% | |
| JPY | -0.14% | 0.04% | 0.11% | -0.10% | 0.35% | 0.21% | 0.02% | |
| CAD | -0.06% | 0.15% | 0.20% | 0.10% | 0.45% | 0.30% | 0.12% | |
| AUD | -0.52% | -0.32% | -0.25% | -0.35% | -0.45% | -0.14% | -0.33% | |
| NZD | -0.35% | -0.15% | -0.11% | -0.21% | -0.30% | 0.14% | -0.19% | |
| CHF | -0.17% | 0.04% | 0.08% | -0.02% | -0.12% | 0.33% | 0.19% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Theo công cụ CME FedWatch, khả năng Fed giữ nguyên lãi suất ở mức hiện tại đến cuối năm là 53%, trong khi phần còn lại dự đoán ít nhất một lần tăng lãi suất trong năm nay. Đây là sự thay đổi mạnh mẽ so với hai lần cắt giảm lãi suất được dự đoán trước khi chiến tranh ở Trung Đông bùng phát.
Kỳ vọng Fed ôn hòa đã giảm đáng kể khi giá dầu tăng cao do dòng chảy năng lượng bị hạn chế qua Eo biển Hormuz đã thúc đẩy kỳ vọng lạm phát tại Hoa Kỳ (US). Dữ liệu Chỉ số Giá tiêu dùng (CPI) của Mỹ công bố tuần trước cho thấy lạm phát chung tăng tốc lên 3,8% theo năm (YoY), mức cao nhất trong gần ba năm.
Để có thêm tín hiệu về triển vọng chính sách tiền tệ của Fed, nhà đầu tư sẽ tập trung vào biên bản cuộc họp chính sách tháng 4 của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC), sẽ được công bố vào thứ Tư.
-1779176765773.png)
Chỉ số đô la Mỹ giao ngay giao dịch cao hơn quanh mức 99,18 vào thời điểm viết bài. Xu hướng ngắn hạn có phần tăng nhẹ khi giá giữ trên Đường trung bình động hàm mũ (EMA) 20 kỳ tại 98,63, cho thấy người mua đang lấy lại quyền kiểm soát sau đợt phục hồi gần đây.
Chỉ báo sức mạnh tương đối (RSI) ở mức 57,08 nghiêng về phía tăng mà chưa báo hiệu điều kiện quá mua, gợi ý rằng động lực tích cực có thể hỗ trợ đà tăng tiếp tục miễn là cấu trúc hiện tại được duy trì.
Về phía giảm, mức hỗ trợ ngay lập tức nằm tại EMA 20 ngày quanh 98,63, với vùng đáy dao động gần đây bên dưới đóng vai trò là khu vực cầu rộng hơn nếu xảy ra sự điều chỉnh. Miễn là chỉ số duy trì trên đường trung bình động này, các đợt giảm có khả năng sẽ thu hút người mua, giữ nguyên xu hướng phục hồi rộng hơn trong các phiên tới. Về phía trên, DXY có thể mở rộng đà tăng hướng tới mức cao ngày 8 tháng 4 là 99,70 và mức tâm lý 100,00, nếu vượt qua được mức cao ngày 18 tháng 5 là 99,41.
(Phân tích kỹ thuật của bài viết này được thực hiện với sự hỗ trợ của công cụ AI.)
Chính sách tiền tệ tại Hoa Kỳ được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được các mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, làm tăng chi phí đi vay trên toàn bộ nền kinh tế. Điều này dẫn đến đồng Đô la Mỹ (USD) mạnh hơn vì khiến Hoa Kỳ trở thành nơi hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư quốc tế gửi tiền của họ. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất để khuyến khích đi vay, điều này gây áp lực lên Đồng bạc xanh.
Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tổ chức tám cuộc họp chính sách mỗi năm, trong đó Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đánh giá các điều kiện kinh tế và đưa ra các quyết định về chính sách tiền tệ. FOMC có sự tham dự của mười hai quan chức Fed – bảy thành viên của Hội đồng Thống đốc, Thống đốc Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York và bốn trong số mười một Thống đốc Ngân hàng Dự trữ khu vực còn lại, những người phục vụ nhiệm kỳ một năm theo chế độ luân phiên.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang có thể dùng đến một chính sách có tên là Nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bị kẹt. Đây là một biện pháp chính sách không theo tiêu chuẩn được sử dụng trong các cuộc khủng hoảng hoặc khi lạm phát cực kỳ thấp. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Điều này liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu cấp cao từ các tổ chức tài chính. QE thường làm suy yếu Đồng đô la Mỹ.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại của Nới lỏng định lượng (QE), theo đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư số tiền gốc từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn để mua trái phiếu mới. Thông thường, điều này có lợi cho giá trị của đồng đô la Mỹ.