Những điều bạn cần biết vào thứ Năm, ngày 16 tháng 7:
Các cặp tiền tệ chính duy trì trạng thái tương đối trầm lắng trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Năm khi đồng đô la Mỹ (USD) tìm được chỗ đứng sau đợt bán tháo kéo dài hai ngày. Trong nửa cuối ngày, dữ liệu Đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu hàng tuần và Doanh số bán lẻ tháng 6 sẽ là tâm điểm trên lịch kinh tế Mỹ. Các nhà đầu tư cũng sẽ đặc biệt chú ý đến các bình luận từ các quan chức Cục Dự trữ Liên bang (Fed).
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê tuần này. Đô la Mỹ là yếu nhất so với Đô la New Zealand.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.58% | -1.13% | 0.21% | -0.81% | -0.76% | -1.63% | -0.24% | |
| EUR | 0.58% | -0.57% | 0.80% | -0.25% | -0.22% | -1.07% | 0.35% | |
| GBP | 1.13% | 0.57% | 1.32% | 0.32% | 0.33% | -0.51% | 0.95% | |
| JPY | -0.21% | -0.80% | -1.32% | -1.11% | -0.97% | -1.88% | -0.50% | |
| CAD | 0.81% | 0.25% | -0.32% | 1.11% | 0.14% | -0.78% | 0.63% | |
| AUD | 0.76% | 0.22% | -0.33% | 0.97% | -0.14% | -0.83% | 0.48% | |
| NZD | 1.63% | 1.07% | 0.51% | 1.88% | 0.78% | 0.83% | 1.47% | |
| CHF | 0.24% | -0.35% | -0.95% | 0.50% | -0.63% | -0.48% | -1.47% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Sau khi Cục Thống kê Lao động Mỹ (BLS) báo cáo hôm thứ Ba rằng lạm phát tiêu dùng tăng với tốc độ chậm hơn nhiều so với dự kiến trong tháng 6, dữ liệu hôm thứ Tư cho thấy lạm phát sản xuất cũng giảm mạnh trong giai đoạn này. Chỉ số giá sản xuất (PPI) giảm 0,3% theo tháng và tăng 5,5% theo năm, thấp hơn nhiều so với dự báo thị trường là 6,2%. Đồng USD vẫn chịu áp lực giảm giá vào giữa tuần, với Chỉ số USD mất khoảng 0,5% vào thứ Tư. Đầu ngày thứ Năm, Chỉ số USD giữ ổn định quanh mức 100,50, trong khi hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán Mỹ gần như không đổi trong ngày.
Các bình luận của Chủ tịch Fed Kevin Warsh trong ngày thứ hai điều trần trước Quốc hội đã nhận mức 5,4/10 trên FXS Speechtracker, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình lịch sử 7/10, cho thấy giọng điệu thận trọng và tinh tế hơn. Khi gọi dữ liệu lạm phát gần đây là một "thước đo không hoàn hảo" của lạm phát cơ bản và mô tả AI là nguồn gốc của cả sự gián đoạn lẫn tăng trưởng việc làm và tiền lương trong dài hạn, các phát biểu này nghiêng về việc nhấn mạnh thay đổi mang tính cấu trúc hơn là thắt chặt chính sách sắp xảy ra. Bình luận rằng việc AI có gây lạm phát hay không "là tùy thuộc vào Fed" nhấn mạnh sự tự tin vào khả năng kiểm soát chính sách nhưng chưa bổ sung thêm động lực diều hâu mới cho USD.
Trong khi đó, Mỹ và Iran đã trao đổi các đòn tấn công trong ngày thứ năm liên tiếp. Quân đội Mỹ thông báo trong những giờ giao dịch đầu phiên châu Á rằng họ đã phát động thêm một đợt tấn công vào Iran, trong khi truyền thông Iran đưa tin về các vụ nổ trên đảo Qeshm, Bandar Abbas và Chabahar. Đáp trả, Iran cho biết họ đã nhắm vào các tài sản của Mỹ tại Kuwait, Bahrain và Jordan.
Trong bối cảnh căng thẳng ở Trung Đông vẫn ở mức cao, Vàng (XAU/USD) gặp khó khăn trong việc hưởng lợi từ sự suy yếu rộng khắp của USD và ghi nhận mức tăng nhẹ vào thứ Tư. Trong sáng thứ Năm tại châu Âu, XAU/USD giảm nhẹ về phía 4.000$.
EUR/USD kéo dài đà phục hồi và chạm mức cao nhất trong khoảng một tháng trên 1,1480 vào thứ Tư. Cặp tiền này đang trong giai đoạn tích luỹ quanh mức 1,1460 vào đầu ngày thứ Năm.
GBP/USD thu thập đà tăng vào thứ Tư và tăng hơn 1% để chạm mức cao nhất trong hai tháng trên 1,3550. Cặp tiền này điều chỉnh giảm và giao dịch gần 1,3530 trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Năm. Dữ liệu do Văn phòng Thống kê Quốc gia (ONS) của Vương quốc Anh công bố cho thấy Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng 0,1% theo tháng trong tháng 5, đúng như dự kiến.
Ngân hàng trung ương Canada (BoC) hôm thứ Tư thông báo giữ nguyên lãi suất chính sách ở mức 2,25%, đúng như dự báo. Trong cuộc họp báo, Thống đốc BoC Tiff Macklem lưu ý rằng kỳ vọng lạm phát dài hạn vẫn được neo vững, nhưng thừa nhận những rủi ro lớn nhất là các xung đột ở Trung Đông và quan hệ thương mại với Mỹ. Sau đợt giảm mạnh hôm thứ Ba, USD/CAD đóng cửa giảm nhẹ vào thứ Tư và lần cuối được nhìn thấy dao động trong một kênh hẹp quanh mức 1,4050.
USD/JPY đi ngang quanh mức 162,00 sau khi đóng cửa gần như không đổi vào thứ Tư. Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản Satsuki Katayama hôm thứ Năm nhắc lại rằng các nhà chức trách sẵn sàng thực hiện hành động phù hợp trên thị trường tiền tệ bất cứ lúc nào khi cần. Trong khi đó, khảo sát hàng quý của Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) cho thấy 90,4% hộ gia đình Nhật Bản kỳ vọng giá cả sẽ tăng trong một năm tới, so với 83,7% trong cuộc khảo sát trước đó.
Lạm phát đo lường mức tăng giá của một rổ hàng hóa và dịch vụ tiêu biểu. Lạm phát tiêu đề thường được thể hiện dưới dạng phần trăm thay đổi theo tháng (hàng tháng) và theo năm (hàng năm). Lạm phát cốt lõi không bao gồm các yếu tố dễ biến động hơn như thực phẩm và nhiên liệu có thể dao động do các yếu tố địa chính trị và theo mùa. Lạm phát cốt lõi là con số mà các nhà kinh tế tập trung vào và là mức mà các ngân hàng trung ương nhắm tới, được giao nhiệm vụ giữ lạm phát ở mức có thể kiểm soát được, thường là khoảng 2%.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo lường sự thay đổi giá của một rổ hàng hóa và dịch vụ trong một khoảng thời gian. Chỉ số này thường được thể hiện dưới dạng phần trăm thay đổi theo tháng (hàng tháng) và theo năm (hàng năm). CPI cơ bản là con số mà các ngân hàng trung ương nhắm đến vì nó không bao gồm các đầu vào thực phẩm và nhiên liệu biến động. Khi CPI cơ bản tăng trên 2%, thường dẫn đến lãi suất cao hơn và ngược lại khi giảm xuống dưới 2%. Vì lãi suất cao hơn là tích cực đối với một loại tiền tệ, nên lạm phát cao hơn thường dẫn đến một loại tiền tệ mạnh hơn. Điều ngược lại xảy ra khi lạm phát giảm.
Mặc dù có vẻ trái ngược với thông thường, lạm phát cao ở một quốc gia sẽ đẩy giá trị đồng tiền của quốc gia đó lên và ngược lại đối với lạm phát thấp hơn. Điều này là do ngân hàng trung ương thường sẽ tăng lãi suất để chống lại lạm phát cao hơn, điều này thu hút nhiều dòng vốn toàn cầu hơn từ các nhà đầu tư đang tìm kiếm một nơi sinh lợi để gửi tiền của họ.
Trước đây, Vàng là tài sản mà các nhà đầu tư hướng đến trong thời kỳ lạm phát cao vì nó bảo toàn giá trị của nó, và trong khi các nhà đầu tư thường vẫn mua Vàng vì tính chất trú ẩn an toàn của nó trong thời kỳ thị trường biến động cực độ, thì hầu hết thời gian không phải vậy. Điều này là do khi lạm phát cao, các ngân hàng trung ương sẽ tăng lãi suất để chống lại lạm phát. Lãi suất cao hơn là tiêu cực đối với Vàng vì chúng làm tăng chi phí cơ hội khi nắm giữ Vàng so với tài sản sinh lãi hoặc gửi tiền vào tài khoản tiền gửi bằng tiền mặt. Mặt khác, lạm phát thấp hơn có xu hướng tích cực đối với Vàng vì nó làm giảm lãi suất, khiến kim loại sáng này trở thành một lựa chọn đầu tư khả thi hơn.