Đồng Won Hàn Quốc (KRW) phản ánh sức mạnh rộng hơn so với đồng đô la Mỹ (USD) khi Ngân hàng Hàn Quốc (BoK) thực hiện đợt tăng lãi suất đầu tiên sau ba năm rưỡi, nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản (bps) lên 2,75%. Cặp USD/KRW trả lại một phần mức tăng đầu phiên và giảm nhẹ xuống gần 1.484,68 trong phiên giao dịch châu Á vào thứ Năm.
Cặp tiền này có khả năng sẽ tiếp tục giữ vững khi BoK vẫn để ngỏ khả năng tăng lãi suất thêm nữa, nhằm ổn định đồng KRW đang suy yếu và kiềm chế áp lực giá dai dẳng. "Chúng tôi sẽ phản ứng cho đến khi lạm phát ổn định ở mức mục tiêu của BoK," Thống đốc BoK Hyun-Song Shin cho biết trong một tuyên bố. Shin nói thêm, "Áp lực giá từ phía cầu có thể cần được theo dõi cẩn trọng vì nó có thể chuyển thành áp lực lạm phát mạnh hơn nếu mức tăng Thu nhập Quốc nội (GDI) vững chắc được duy trì."
Đồng tiền châu Á này đã vượt trội hơn đồng đô la Mỹ trong hơn hai tuần qua, khi những người tham gia thị trường đã định giá trước khả năng BoK tăng lãi suất.
Trong khi đó, đồng đô la Mỹ đang nỗ lực lấy lại đà tăng sau đợt bán tháo mạnh trong hai phiên giao dịch gần nhất. Tính đến thời điểm viết bài, Chỉ số Đô la Mỹ (DXY), thước đo giá trị của đồng bạc xanh so với sáu đồng tiền chủ chốt, giao dịch nhích nhẹ lên gần 100,50.
Chỉ số USD đã giảm mạnh trong hai phiên giao dịch vừa qua khi các số liệu lạm phát yếu của Hoa Kỳ (US) ở cả cấp độ bán lẻ và bán buôn đã buộc các nhà giao dịch phải xem xét lại kỳ vọng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang (Fed).
Theo công cụ CME FedWatch, xác suất Fed tăng lãi suất tại cuộc họp tháng 7 đã giảm đáng kể xuống còn 10,2% từ mức 31% được ghi nhận một tuần trước.
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.