Cặp USD/CHF giao dịch giảm 0,2% ở mức khoảng 0,8085 trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Sáu, kéo dài sự điều chỉnh từ mức cao 10 tháng là 0,8140 được ghi nhận vào thứ Tư. Cặp tiền Franc Thụy Sĩ chịu áp lực bán khi Đô la Mỹ (USD) điều chỉnh thêm do hy vọng về ít nhất hai lần tăng lãi suất từ Cục Dự trữ Liên bang (Fed) trong năm nay giảm bớt.
Trong thời điểm viết bài, Chỉ số Đô la Mỹ (DXY), theo dõi giá trị của đồng Đô la so với sáu loại tiền tệ chính, giảm nhẹ xuống gần 101,35.
Công cụ CME FedWatch cho thấy xác suất Fed thực hiện ít nhất hai lần tăng lãi suất trong năm nay là 41,7%, giảm so với 50,2% một tuần trước.
Giá dầu thấp hơn do tiến triển bền vững trong các cuộc đàm phán kỹ thuật giữa Hoa Kỳ (US) và Iran cùng với sự cải thiện dòng năng lượng qua Eo biển Hormuz đã neo giữ các dự báo lạm phát toàn cầu, buộc các nhà giao dịch phải xem xét lại triển vọng diều hâu của Fed.
Trong khi đó, đồng Franc Thụy Sĩ (CHF) vượt trội so với các đồng tiền chính khác trong bối cảnh tâm lý thị trường thận trọng. Việc bán tháo cổ phiếu Trí tuệ nhân tạo (AI) dẫn đầu trên các thị trường toàn cầu đã kích hoạt tâm lý thị trường ngại rủi ro. Tính đến thời điểm viết bài, hợp đồng tương lai S&P 500 giảm 0,43% xuống gần 7.330, phản ánh sự suy giảm khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đồng Franc Thụy Sĩ (CHF) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đồng Franc Thụy Sĩ mạnh nhất so với Đô la Úc.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.06% | -0.04% | -0.05% | -0.08% | 0.17% | -0.01% | -0.14% | |
| EUR | 0.06% | -0.00% | 0.02% | 0.00% | 0.23% | 0.02% | -0.08% | |
| GBP | 0.04% | 0.00% | 0.02% | -0.03% | 0.23% | 0.03% | -0.09% | |
| JPY | 0.05% | -0.02% | -0.02% | -0.02% | 0.22% | 0.02% | -0.10% | |
| CAD | 0.08% | -0.00% | 0.03% | 0.02% | 0.24% | 0.04% | -0.09% | |
| AUD | -0.17% | -0.23% | -0.23% | -0.22% | -0.24% | -0.19% | -0.30% | |
| NZD | 0.00% | -0.02% | -0.03% | -0.02% | -0.04% | 0.19% | -0.12% | |
| CHF | 0.14% | 0.08% | 0.09% | 0.10% | 0.09% | 0.30% | 0.12% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đồng Franc Thụy Sĩ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đô la Mỹ, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho CHF (đồng tiền cơ sở)/USD (đồng tiền định giá).

USD/CHF giao dịch thấp hơn ở mức khoảng 0,8085; tuy nhiên, xu hướng ngắn hạn là tăng khi nó giữ trên đường trung bình động hàm mũ (EMA) 20 kỳ, hiện ở mức 0,8007. Chỉ báo sức mạnh tương đối (RSI) ở mức 65,37 đang tiến gần vùng quá mua, gợi ý rằng động lực tăng vẫn mạnh nhưng có thể dễ bị các giai đoạn tích lũy sau các đợt tăng mạnh.
Về phía hỗ trợ, mức cao ngày 31 tháng 3 tại 0,8043 là hỗ trợ ngay lập tức, tiếp theo là EMA 20 ngày ở mức 0,8007. Về phía kháng cự, cặp tiền có thể tăng lên mức cao ngày 1 tháng 8 tại 0,8172, tiếp theo là 0,8200 khi nó tiếp tục đà tăng và phá vỡ mức cao 10 tháng là 0,8140 được ghi nhận vào ngày 24 tháng 6.
(Phân tích kỹ thuật của bài viết này được thực hiện với sự trợ giúp của công cụ AI.)
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.