Chỉ số đô la Mỹ (DXY) mất đà vào thứ Năm, giảm về khu vực 101,40 sau khi một loạt dữ liệu kinh tế mới của Hoa Kỳ (Mỹ) cho thấy lạm phát dai dẳng, tăng trưởng mạnh hơn và thị trường lao động kiên cường. Lạm phát hàng năm ở Mỹ, được đo bằng Chỉ số giá Chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE), đã tăng lên 4,1% trong tháng 5 từ 3,8% trong tháng 4, phù hợp với kỳ vọng, trong khi PCE cơ bản tăng lên 3,4% so với cùng kỳ năm trước.
Thêm vào đó, số đơn yêu cầu trợ cấp thất nghiệp lần đầu giảm xuống còn 215 nghìn, và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quý đầu tiên được điều chỉnh tăng lên mức 2,1% hàng năm từ 1,6%.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ mạnh nhất so với Đô la New Zealand.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.10% | -0.23% | -0.02% | -0.26% | -0.16% | 0.00% | -0.29% | |
| EUR | 0.10% | -0.08% | 0.13% | -0.14% | -0.03% | 0.16% | -0.17% | |
| GBP | 0.23% | 0.08% | 0.21% | -0.01% | 0.04% | 0.26% | -0.08% | |
| JPY | 0.02% | -0.13% | -0.21% | -0.26% | -0.16% | 0.00% | -0.31% | |
| CAD | 0.26% | 0.14% | 0.01% | 0.26% | 0.08% | 0.28% | -0.06% | |
| AUD | 0.16% | 0.03% | -0.04% | 0.16% | -0.08% | 0.17% | -0.12% | |
| NZD | -0.01% | -0.16% | -0.26% | -0.00% | -0.28% | -0.17% | -0.34% | |
| CHF | 0.29% | 0.17% | 0.08% | 0.31% | 0.06% | 0.12% | 0.34% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Cặp EUR/USD giao dịch với mức tăng nhẹ gần 1,1370 khi đồng bạc xanh giảm giá sau khi công bố PCE. Ở phía khu vực đồng Euro, dữ liệu tâm lý người tiêu dùng của Đức đã hỗ trợ đồng Euro, với Khảo sát Niềm tin Người tiêu dùng GfK cải thiện lên -29,2.
GBP/USD tiến lên khu vực 1,3200, hưởng lợi từ đợt thoái lui rộng hơn của đồng đô la Mỹ (USD).
USD/JPY dao động gần 161,80, trong vùng can thiệp, khi chênh lệch lợi suất rộng giữa Mỹ và Nhật tiếp tục gây áp lực lên đồng Yên Nhật. Các nhà giao dịch hiện đang chờ đợi công bố Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Tokyo cho tháng 6, sẽ được công bố vào đầu phiên giao dịch châu Á, có thể cung cấp manh mối mới về đường lối chính sách của Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ).
AUD/USD tăng vừa phải gần khu vực 0,6910 mặc dù dữ liệu thị trường lao động Australia mạnh hơn. Thay đổi việc làm của Australia tăng 40,3 nghìn trong tháng 5, vượt kỳ vọng, trong khi tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 4,4% từ 4,5%.
Dầu thô West Texas Intermediate (WTI) phục hồi về khu vực 71,90$ mỗi thùng sau những lo ngại mới về nguồn cung quanh Eo biển Hormuz. Giá dầu được hỗ trợ sau báo cáo về một tàu hàng bị trúng đạn gần Oman, mặc dù kỳ vọng về việc cải thiện dòng chảy ở Trung Đông đã hạn chế đà tăng rộng hơn.
Vàng phục hồi trên khu vực 4.030$ khi đồng đô la Mỹ và lợi suất trái phiếu chính phủ giảm sau báo cáo PCE. Kim loại này được hỗ trợ sau khi lạm phát phù hợp với kỳ vọng, làm giảm bớt một số lo ngại về khả năng Fed tăng lãi suất sắp tới, mặc dù triển vọng rộng hơn vẫn phụ thuộc vào kỳ vọng về lãi suất Mỹ.
Thứ Sáu, ngày 26 tháng 6: