Cặp AUD/USD giao dịch giảm 0,85% xuống gần 0,7050 trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Hai. Cặp tiền này giảm mạnh khi tâm lý thị trường tránh rủi ro do cuộc chiến giữa Hoa Kỳ (Mỹ) và Iran đã đè nặng lên đồng đô la Úc (AUD).
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Úc (AUD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Úc là yếu nhất so với Đô la Mỹ.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | 0.90% | 1.01% | 0.66% | 0.21% | 0.98% | 1.06% | 0.53% | |
| EUR | -0.90% | 0.10% | -0.22% | -0.69% | 0.07% | 0.16% | -0.36% | |
| GBP | -1.01% | -0.10% | -0.34% | -0.79% | -0.03% | 0.06% | -0.47% | |
| JPY | -0.66% | 0.22% | 0.34% | -0.44% | 0.32% | 0.41% | -0.12% | |
| CAD | -0.21% | 0.69% | 0.79% | 0.44% | 0.77% | 0.85% | 0.32% | |
| AUD | -0.98% | -0.07% | 0.03% | -0.32% | -0.77% | 0.10% | -0.44% | |
| NZD | -1.06% | -0.16% | -0.06% | -0.41% | -0.85% | -0.10% | -0.53% | |
| CHF | -0.53% | 0.36% | 0.47% | 0.12% | -0.32% | 0.44% | 0.53% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Úc từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đô la Mỹ, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho AUD (đồng tiền cơ sở)/USD (đồng tiền định giá).
Các nhà đầu tư chuyển sang đội ngũ trú ẩn an toàn khi Iran thực hiện các cuộc tấn công trả đũa cho cái chết của lãnh đạo tối cao của họ, Ayatollah Ali Khamenei.
Tính đến thời điểm viết bài, Chỉ số đô la Mỹ (DXY), theo dõi giá trị của đồng bạc xanh so với sáu loại tiền tệ chính, giao dịch cao hơn 0,8% lên gần 98,45, mức cao nhất được thấy trong hơn một tháng.
Trong thời gian tới, các yếu tố chính tác động đến đồng đô la Mỹ sẽ là một loạt dữ liệu liên quan đến thị trường lao động của Mỹ và Chỉ số người quản lý mua hàng (PMI) ISM. Trong phiên giao dịch vào thứ Hai, các nhà đầu tư sẽ tập trung vào dữ liệu PMI ngành sản xuất ISM của Mỹ cho tháng Hai, sẽ được công bố lúc 15:00 GMT. PMI ngành sản xuất dự kiến sẽ giảm xuống 52,3 từ mức 52,6 trong tháng Giêng.
Tại Úc, các nhà đầu tư sẽ tập trung vào bài phát biểu của Thống đốc Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) Michele Bullock vào thứ Ba.
-1772439241770-1772439241772.png)
AUD/USD giao dịch giảm mạnh ở mức 0,7050 tại thời điểm viết bài. Cặp tiền này đã điều chỉnh xuống gần Đường trung bình động hàm mũ (EMA) 20 ngày, giao dịch quanh mức 0,7050. Xu hướng ngắn hạn vẫn lạc quan khi giá giữ trên đường EMA 20 ngày đang tăng, giữ cho đà tăng rộng hơn từ cuối tháng Giêng vẫn còn nguyên mặc dù gần đây đã tích lũy quanh khu vực 0,71.
Chỉ báo sức mạnh tương đối (RSI) 14 ngày đã lùi về mức 56 từ phạm vi tăng giá 60,00-60,00, báo hiệu động lượng đã giảm nhiệt thay vì đảo chiều.
Mức hỗ trợ ban đầu xuất hiện tại EMA 20 ngày gần 0,7050, với việc phá vỡ mức này sẽ làm lộ ra mức đáy phản ứng giữa tháng Hai khoảng 0,6990 và sau đó là mức đáy ngày 6 tháng Hai khoảng 0,6900 như các mức giảm sâu hơn. Ở phía trên, mức kháng cự ngay lập tức đứng ở 0,7120, mức cao gần đây, tiếp theo là khu vực 0,7150, nơi một sự phá vỡ rõ ràng sẽ mở lại đà tăng hướng tới mức 0,72 và xác nhận sự kéo dài của xu hướng tăng hàng ngày hiện tại.
(Phân tích kỹ thuật của câu chuyện này được viết với sự trợ giúp của một công cụ AI.)
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.