Cặp AUD/JPY giữ vững mức lỗ ban đầu gần 106,00 trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Hai. Cặp tiền tệ chéo này giảm gần 1% khi đồng Yên Nhật (JPY) vượt trội hơn so với các đồng tiền khác, sau những bình luận từ Thủ tướng Nhật Bản (PM) Sanae Takaichi rằng chính phủ có thể can thiệp chống lại các động thái quá mức một chiều.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đồng Yên Nhật (JPY) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đồng Yên Nhật mạnh nhất so với Đô la Mỹ.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.29% | -0.24% | -1.29% | -0.09% | -0.41% | -0.39% | -0.55% | |
| EUR | 0.29% | 0.05% | -1.00% | 0.20% | -0.13% | -0.11% | -0.26% | |
| GBP | 0.24% | -0.05% | -1.03% | 0.16% | -0.17% | -0.14% | -0.31% | |
| JPY | 1.29% | 1.00% | 1.03% | 1.23% | 0.89% | 0.92% | 0.76% | |
| CAD | 0.09% | -0.20% | -0.16% | -1.23% | -0.33% | -0.30% | -0.46% | |
| AUD | 0.41% | 0.13% | 0.17% | -0.89% | 0.33% | 0.02% | -0.13% | |
| NZD | 0.39% | 0.11% | 0.14% | -0.92% | 0.30% | -0.02% | -0.16% | |
| CHF | 0.55% | 0.26% | 0.31% | -0.76% | 0.46% | 0.13% | 0.16% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đồng Yên Nhật từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đô la Mỹ, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho JPY (đồng tiền cơ sở)/USD (đồng tiền định giá).
"Không thể bình luận về thị trường nhưng sẽ theo dõi chặt chẽ các động thái đầu cơ và phản ứng một cách thích hợp," Takaichi nói. Bà cũng cam kết đạt được "việc tạm ngừng thuế tiêu dùng 8% trong hai năm". Takaichi cũng đã tranh luận về việc nới lỏng các điều kiện tài khóa chặt chẽ, và việc giảm thuế tiêu dùng là một bước quan trọng để thực hiện chương trình kinh tế của bà.
Hy vọng về các điều kiện tài khóa lỏng lẻo đã đẩy chi phí vay của chính phủ Nhật Bản tăng cao. Lợi suất trái phiếu Chính phủ Nhật Bản (JGB) kỳ hạn 10 năm đã phục hồi sau một đợt điều chỉnh ba ngày vào thứ Hai.
Về mặt chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhật Bản (BoJ) đã giữ lãi suất không đổi ở mức 0,75% vào thứ Sáu, trong khi vẫn mở cửa cho khả năng tăng lãi suất hơn nữa.
Trong khi đó, đồng đô la Úc (AUD) giao dịch mạnh mẽ trước khi công bố dữ liệu Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cho quý 4 và tháng 12 năm 2025 vào thứ Tư. CPI quý 4 được ước tính đã tăng trưởng với tốc độ hàng năm là 3,6%, nhanh hơn so với mức 3,2% của lần công bố trước đó.
Các số liệu CPI nóng sẽ thúc đẩy kỳ vọng về một đợt tăng lãi suất của Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) trong thời gian tới. Hiện tại, các nhà giao dịch thấy có 60% khả năng rằng RBA sẽ tăng lãi suất cho vay trong cuộc họp chính sách vào tuần tới, theo Reuters.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), được công bố bởi Cục Thống kê Úc trên cơ sở hàng quý, đo lường sự thay đổi trong giá của một giỏ hàng hóa và dịch vụ cố định mà người tiêu dùng hộ gia đình mua sắm. Dữ liệu CPI hàng quý được tính toán là trung bình của ba chỉ số CPI hàng tháng liên quan. Số liệu hàng năm so sánh giá trong quý tham chiếu với cùng quý năm trước. Một số liệu cao được coi là tín hiệu tăng giá cho đồng đô la Úc (AUD), trong khi một số liệu thấp được coi là tín hiệu giảm giá.
Đọc thêmLần phát hành tiếp theo: Th 4 thg 1 28, 2026 00:30
Tần số: Hàng quý
Đồng thuận: 3.6%
Trước đó: 3.2%
Nguồn: Australian Bureau of Statistics
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hàng quý do Cục Thống kê Úc (ABS) công bố có tác động đáng kể đến thị trường và định giá AUD. Thước đo này được theo dõi chặt chẽ bởi Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA), để đạt được nhiệm vụ lạm phát của cơ quan này, có tác động chính sách tiền tệ chính. Giá tiêu dùng tăng có xu hướng thúc đẩy động thái tăng giá của đồng AUD, vì RBA có thể tăng lãi suất để duy trì mục tiêu lạm phát. Dữ liệu được công bố gần 25 ngày sau khi quý kết thúc.