Cặp AUD/USD nắm giữ mức tăng sớm và giao dịch cao hơn 0,35% gần 0,6935 trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Hai. Cặp tiền này thể hiện sức mạnh khi đô la Mỹ (USD) đang chịu áp lực cực lớn vào đầu tuần.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ là yếu nhất so với Đồng Yên Nhật.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.34% | -0.24% | -1.44% | -0.14% | -0.41% | -0.40% | -0.80% | |
| EUR | 0.34% | 0.10% | -1.11% | 0.20% | -0.08% | -0.06% | -0.46% | |
| GBP | 0.24% | -0.10% | -1.20% | 0.10% | -0.18% | -0.16% | -0.56% | |
| JPY | 1.44% | 1.11% | 1.20% | 1.33% | 1.05% | 1.07% | 0.66% | |
| CAD | 0.14% | -0.20% | -0.10% | -1.33% | -0.27% | -0.25% | -0.66% | |
| AUD | 0.41% | 0.08% | 0.18% | -1.05% | 0.27% | 0.02% | -0.38% | |
| NZD | 0.40% | 0.06% | 0.16% | -1.07% | 0.25% | -0.02% | -0.40% | |
| CHF | 0.80% | 0.46% | 0.56% | -0.66% | 0.66% | 0.38% | 0.40% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Trong thời gian báo chí, chỉ số Đô la Mỹ (DXY), theo dõi giá trị của đồng bạc xanh so với sáu loại tiền tệ chính, giảm 0,35% xuống gần 97,10.
Đô la Mỹ giảm mạnh do kỳ vọng rằng Nhà Trắng có thể công bố tên của Chủ tịch mới của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) trong tuần này. Sự kiện này sẽ không có lợi cho đô la Mỹ khi các nhà đầu tư kỳ vọng rằng các quyết định của Chủ tịch Fed mới sẽ thiên về chương trình kinh tế của Tổng thống Mỹ Donald Trump.
Trong tuần này, các nhà đầu tư cũng sẽ tập trung vào thông báo chính sách tiền tệ của Fed vào thứ Tư. Theo công cụ FedWatch của CME, Fed sẽ giữ nguyên lãi suất trong phạm vi hiện tại là 3,50%-3,75%.
Trong khi đó, đồng đô la Úc (AUD) giao dịch cao hơn khi suy đoán của thị trường về việc Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) sẽ tăng lãi suất trong cuộc họp tháng 2 đã gia tăng. Các nhà giao dịch thấy có 60% khả năng rằng RBA sẽ tăng lãi suất cho vay vào tuần tới, theo Reuters.
Tuy nhiên, kỳ vọng về triển vọng lãi suất của RBA có thể bị ảnh hưởng khi dữ liệu Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) quý 4 của Úc dự kiến sẽ được công bố vào thứ Tư. Báo cáo CPI dự kiến sẽ cho thấy áp lực lạm phát tăng với tốc độ nhanh hơn.
Ngân hàng trung ương có nhiệm vụ chính là đảm bảo giá cả ổn định ở một quốc gia hoặc khu vực. Các nền kinh tế liên tục phải đối mặt với lạm phát hoặc giảm phát khi giá của một số hàng hóa và dịch vụ nhất định biến động. Giá cả tăng liên tục đối với cùng một loại hàng hóa có nghĩa là lạm phát, giá cả giảm liên tục đối với cùng một loại hàng hóa có nghĩa là giảm phát. Nhiệm vụ của ngân hàng trung ương là giữ cho nhu cầu phù hợp bằng cách điều chỉnh lãi suất chính sách của mình. Đối với các ngân hàng trung ương lớn nhất như Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) hoặc Ngân hàng trung ương Anh (BoE), nhiệm vụ là giữ lạm phát ở mức gần 2%.
Ngân hàng trung ương có một công cụ quan trọng để tăng hoặc giảm lạm phát, đó là điều chỉnh lãi suất chính sách chuẩn, thường được gọi là lãi suất. Vào những thời điểm được thông báo trước, ngân hàng trung ương sẽ ban hành một tuyên bố về lãi suất chính sách của mình và đưa ra lý do bổ sung về lý do tại sao họ vẫn giữ nguyên hoặc thay đổi (cắt giảm hoặc tăng lãi suất). Các ngân hàng địa phương sẽ điều chỉnh lãi suất tiết kiệm và cho vay của mình cho phù hợp, điều này sẽ khiến mọi người khó hoặc dễ kiếm tiền từ tiền tiết kiệm của mình hoặc các công ty khó vay vốn và đầu tư vào doanh nghiệp của mình. Khi ngân hàng trung ương tăng đáng kể lãi suất, điều này được gọi là thắt chặt tiền tệ. Khi ngân hàng trung ương cắt giảm lãi suất chuẩn, điều này được gọi là nới lỏng tiền tệ.
Một ngân hàng trung ương thường độc lập về mặt chính trị. Các thành viên của hội đồng chính sách ngân hàng trung ương phải trải qua một loạt các hội đồng và phiên điều trần trước khi được bổ nhiệm vào một ghế trong hội đồng chính sách. Mỗi thành viên trong hội đồng đó thường có một niềm tin nhất định về cách ngân hàng trung ương nên kiểm soát lạm phát và chính sách tiền tệ tiếp theo. Các thành viên muốn có một chính sách tiền tệ rất lỏng lẻo, với lãi suất thấp và cho vay giá rẻ, để thúc đẩy nền kinh tế đáng kể trong khi vẫn hài lòng khi thấy lạm phát chỉ cao hơn 2% một chút, được gọi là 'bồ câu'. Các thành viên muốn thấy lãi suất cao hơn để thưởng cho tiền tiết kiệm và muốn duy trì lạm phát mọi lúc được gọi là 'diều hâu' và sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi lạm phát ở mức hoặc thấp hơn một chút là 2%.
Thông thường, có một chủ tịch hoặc tổng thống điều hành mỗi cuộc họp, cần tạo ra sự đồng thuận giữa phe diều hâu hoặc phe bồ câu và có tiếng nói cuối cùng khi nào thì đưa ra quyết định bỏ phiếu để tránh tỷ lệ hòa 50-50 về việc có nên điều chỉnh chính sách hiện tại hay không. Chủ tịch sẽ có bài phát biểu thường có thể được theo dõi trực tiếp, trong đó lập trường và triển vọng tiền tệ hiện tại được truyền đạt. Một ngân hàng trung ương sẽ cố gắng thúc đẩy chính sách tiền tệ của mình mà không gây ra biến động mạnh về lãi suất, cổ phiếu hoặc tiền tệ của mình. Tất cả các thành viên của ngân hàng trung ương sẽ truyền đạt lập trường của mình tới thị trường trước sự kiện họp chính sách. Vài ngày trước khi cuộc họp chính sách diễn ra cho đến khi chính sách mới được truyền đạt, các thành viên bị cấm nói chuyện công khai. Đây được gọi là thời gian cấm phát biểu.