Dưới đây là những điều bạn cần biết vào thứ Hai, ngày 8 tháng 6:
Dòng vốn trú ẩn an toàn trở lại thị trường để bắt đầu tuần mới khi các nhà đầu tư phản ứng với tin tức về sự leo thang mới trong xung đột Trung Đông. Lịch kinh tế sẽ không có bất kỳ công bố dữ liệu tác động cao nào vào thứ Hai, cho phép những người tham gia thị trường tập trung vào các tiêu đề địa chính trị.
Israel và Iran đã trao đổi các cuộc tấn công lần đầu tiên kể từ khi thỏa thuận ngừng bắn được ký kết vào ngày 8 tháng 4.
Iran đã phóng tên lửa vào Israel vào Chủ nhật để trả đũa cho một cuộc tấn công của Israel ở Lebanon. Quân đội Israel cho biết họ đã đánh chặn các tên lửa và tiến hành một cuộc tấn công trả đũa, nhắm vào các mục tiêu quân sự ở phía tây và trung tâm Iran. Đài truyền hình nhà nước Iran báo cáo nghe thấy tiếng nổ ở Isfahan, Tabriz và Tehran. Vào đầu ngày thứ Hai, quân đội Israel cho biết lực lượng không quân của họ đã tấn công một số mục tiêu tại khu phức hợp hóa dầu ở Mahshahr, phía tây nam Iran, trong khi Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran tuyên bố họ đã tiến hành các cuộc tấn công vào các căn cứ không quân Nevatim và Tel Nof của Israel để đáp trả các cuộc tấn công vào các trạm radar trong Iran và thêm rằng họ “sẵn sàng cho mọi kịch bản và cho các hoạt động rộng khắp trên tất cả các mặt trận.”
Tổng thống Hoa Kỳ (Mỹ) Donald Trump nói với Financial Times rằng các cuộc tấn công của Iran không làm thay đổi mong muốn của ông trong việc kết thúc các cuộc đàm phán với Iran và cho biết Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận một thỏa thuận với Iran.
Chỉ số Đô la Mỹ tăng nhẹ trong phiên châu Á vào thứ Hai và đạt mức cao nhất kể từ đầu tháng 4 trên 100,00 trước khi giảm nhẹ. Trong khi đó, giá dầu thô West Texas Intermediate (WTI) tăng hơn 4% trong ngày và giao dịch gần mức 92,50$.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê 7 ngày trước. Đô la Mỹ mạnh nhất so với Đô la New Zealand.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | 1.03% | 0.85% | 0.59% | 1.00% | 1.72% | 2.87% | 1.97% | |
| EUR | -1.03% | -0.20% | -0.46% | -0.03% | 0.67% | 1.84% | 0.93% | |
| GBP | -0.85% | 0.20% | -0.24% | 0.16% | 0.87% | 2.04% | 1.11% | |
| JPY | -0.59% | 0.46% | 0.24% | 0.45% | 1.16% | 2.29% | 1.37% | |
| CAD | -1.00% | 0.03% | -0.16% | -0.45% | 0.69% | 1.83% | 0.94% | |
| AUD | -1.72% | -0.67% | -0.87% | -1.16% | -0.69% | 1.16% | 0.26% | |
| NZD | -2.87% | -1.84% | -2.04% | -2.29% | -1.83% | -1.16% | -0.91% | |
| CHF | -1.97% | -0.93% | -1.11% | -1.37% | -0.94% | -0.26% | 0.91% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Vào thứ Sáu, dữ liệu từ Mỹ cho thấy Bảng lương phi nông nghiệp (NFP) tăng 172.000 trong tháng 5. Con số này theo sau mức tăng 179.000 (được điều chỉnh từ 115.000) ghi nhận trong tháng 4 và vượt xa kỳ vọng của thị trường là 85.000. Các chi tiết khác của công bố cho thấy Tỷ lệ thất nghiệp giữ nguyên ở mức 4,3%, như dự kiến, trong khi Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động duy trì ổn định ở mức 61,8%. Cuối cùng, lạm phát tiền lương hàng năm, được đo bằng sự thay đổi trong Thu nhập trung bình theo giờ, giảm nhẹ xuống 3,4% từ 3,6% trong tháng 4, phù hợp với ước tính của các nhà phân tích.
Đô la Mỹ tăng mạnh khi dữ liệu thị trường lao động tích cực cho phép thị trường tiếp tục định giá chính sách diều hâu của Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Theo Công cụ FedWatch của CME, có gần 55% khả năng Fed sẽ tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 9.
Vàng (XAU/USD) giảm hơn 3% vào thứ Sáu và tiếp tục giảm vào đầu ngày thứ Hai. Tại thời điểm viết bài, XAU/USD giao dịch hơi trên mức 4.300$, ở mức yếu nhất kể từ ngày 23 tháng 3.
EUR/USD mở cửa dưới áp lực giảm giá và đã chạm gần mốc 1,1500 trước khi hồi phục trên 1,1530 vào sáng sớm phiên châu Âu.
GBP/USD giữ trạng thái tương đối yên tĩnh và dao động trong phạm vi hẹp quanh mức 1,3350 sau khi giảm khoảng 0,9% trong tuần trước.
Đồng Won Hàn Quốc (KRW) giảm mạnh so với USD vào thứ Sáu và USD/KRW đạt mức cao nhất kể từ tháng 3 năm 2009 ở mức 1.561,8. Vào đầu ngày thứ Hai, các cơ quan quản lý ngoại hối của Hàn Quốc đã can thiệp bằng lời nói, cho biết họ sẽ không dung thứ và sẽ phản ứng mạnh mẽ với sự biến động quá mức so với các yếu tố kinh tế cơ bản và hành vi bầy đàn. Tại thời điểm viết bài, USD/KRW giảm khoảng 1,5% trong ngày ở mức 1.537,8.
Đồng Rupiah Indonesia (IDR) vẫn chịu áp lực bán liên tục và USD/IDR giao dịch ở mức cao kỷ lục mới khoảng 18.200 vào thứ Hai. Những lo ngại ngày càng tăng về tài chính, các chính sách xuất khẩu hàng hóa mới và sự hoài nghi về tính tự chủ trong hoạt động của Ngân hàng Indonesia (BI) tiếp tục gây áp lực lên IDR.
Sau khi đóng cửa tuần trước trong vùng tích cực, USD/JPY duy trì giai đoạn củng cố trên mức 160,00 vào thứ Hai.
Trong thế giới thuật ngữ tài chính, hai thuật ngữ được sử dụng rộng rãi là “ưa rủi ro” và “ngại rủi ro” dùng để chỉ mức độ rủi ro mà các nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận trong giai đoạn được tham chiếu. Trong thị trường “ưa rủi ro”, các nhà đầu tư lạc quan về tương lai và sẵn sàng mua các tài sản rủi ro hơn. Trong thị trường “ngại rủi ro”, các nhà đầu tư bắt đầu “giao dịch an toàn” vì họ lo lắng về tương lai, và do đó mua các tài sản ít rủi ro hơn nhưng chắc chắn mang lại lợi nhuận hơn, ngay cả khi lợi nhuận tương đối khiêm tốn.
Thông thường, trong giai đoạn “ưa rủi ro”, thị trường chứng khoán sẽ tăng, hầu hết các mặt hàng – ngoại trừ Vàng – cũng sẽ tăng giá trị, vì chúng được hưởng lợi từ triển vọng tăng trưởng tích cực. Tiền tệ của các quốc gia là nước xuất khẩu hàng hóa lớn sẽ tăng giá do nhu cầu tăng và Tiền điện tử tăng. Trong thị trường “ngại rủi ro”, Trái phiếu tăng giá – đặc biệt là Trái phiếu chính phủ lớn – Vàng tỏa sáng và các loại tiền tệ trú ẩn an toàn như Yên Nhật, Franc Thụy Sĩ và Đô la Mỹ đều được hưởng lợi.
Đô la Úc (AUD), Đô la Canada (CAD), Đô la New Zealand (NZD) và các đồng tiền FX nhỏ như Rúp (RUB) và Rand Nam Phi (ZAR), tất cả đều có xu hướng tăng trên các thị trường “rủi ro”. Điều này là do nền kinh tế của các loại tiền tệ này phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu hàng hóa để tăng trưởng và giá hàng hóa có xu hướng tăng trong các giai đoạn rủi ro. Điều này là do các nhà đầu tư dự đoán nhu cầu về nguyên liệu thô sẽ tăng cao hơn trong tương lai do hoạt động kinh tế gia tăng.
Các loại tiền tệ chính có xu hướng tăng trong thời kỳ “rủi ro” là Đô la Mỹ (USD), Yên Nhật (JPY) và Franc Thụy Sĩ (CHF). Đô la Mỹ, vì đây là đồng tiền dự trữ của thế giới và vì trong thời kỳ khủng hoảng, các nhà đầu tư mua nợ chính phủ Hoa Kỳ, được coi là an toàn vì nền kinh tế lớn nhất thế giới khó có khả năng vỡ nợ. Đồng yên, do nhu cầu trái phiếu chính phủ Nhật Bản tăng, vì một tỷ lệ lớn được nắm giữ bởi các nhà đầu tư trong nước, những người không có khả năng bán tháo chúng - ngay cả trong khủng hoảng. Franc Thụy Sĩ, vì luật ngân hàng nghiêm ngặt của Thụy Sĩ cung cấp cho các nhà đầu tư sự bảo vệ vốn được tăng cường.