Hoa Kỳ (Mỹ) đã công bố trung bình bốn tuần của Thay đổi Việc làm ADP, cho thấy khu vực tư nhân đã thêm 10,3 nghìn việc làm, vượt qua mức 7,8 nghìn của tuần trước. Tiến lên, Ngân hàng Canada (BoC) đã công bố Chỉ số Giá tiêu dùng (CPI) tháng 1, cho thấy lạm phát giảm xuống 2,3% so với cùng kỳ năm trước, từ mức dự kiến và trước đó là 2,4%.
Chỉ số Đô la Mỹ (DXY) đang giao dịch gần khu vực giá 97,20, cắt giảm tất cả các mức tăng trong ngày sau khi đạt mức cao nhất trong một tuần là 97,54.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ mạnh nhất so với Bảng Anh.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | 0.04% | 0.50% | -0.15% | 0.03% | -0.09% | -0.21% | 0.12% | |
| EUR | -0.04% | 0.46% | -0.22% | 0.00% | -0.14% | -0.26% | 0.08% | |
| GBP | -0.50% | -0.46% | -0.64% | -0.47% | -0.59% | -0.71% | -0.38% | |
| JPY | 0.15% | 0.22% | 0.64% | 0.19% | 0.07% | -0.05% | 0.28% | |
| CAD | -0.03% | -0.00% | 0.47% | -0.19% | -0.12% | -0.24% | 0.08% | |
| AUD | 0.09% | 0.14% | 0.59% | -0.07% | 0.12% | -0.12% | 0.21% | |
| NZD | 0.21% | 0.26% | 0.71% | 0.05% | 0.24% | 0.12% | 0.34% | |
| CHF | -0.12% | -0.08% | 0.38% | -0.28% | -0.08% | -0.21% | -0.34% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
EUR/USD đang giao dịch gần mức 1,1850, hầu như không thay đổi sau khi cắt giảm các khoản lỗ trong ngày sau khi công bố Chỉ số Giá tiêu dùng Hài hòa (HICP) tháng 1 của Đức, phù hợp với kỳ vọng 2,1%. Khảo sát ZEW tháng 2 đã được công bố cho cả Đức và Khu vực đồng euro, cho thấy tâm lý tổng thể đã giảm trên toàn khu vực châu Âu.
GBP/USD đang giao dịch gần khu vực giá 1,3560, có xu hướng giảm sau khi Thay đổi Số lượng Người yêu cầu trợ cấp, Thay đổi Việc làm và Tỷ lệ Thất nghiệp ILO của Vương quốc Anh cho tháng 12 cho thấy sự suy giảm rộng rãi trên thị trường lao động.
AUD/USD đang giao dịch gần khu vực giá 0,7080, đã phục hồi sau khi chạm mức thấp nhất trong năm ngày sau khi công bố biên bản của Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA).
USD/CAD đang giao dịch gần khu vực giá 1,3640, giảm từ đợt tăng trước đó khi CPI của Canada được công bố thấp hơn mong đợi.
USD/JPY đang giao dịch gần khu vực giá 153,20, cắt giảm các khoản lỗ nhưng vẫn trong vùng đỏ, khi chính sách thúc đẩy của Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi và lập trường diều hâu của Ngân hàng Nhật Bản (BoJ) đang củng cố đồng Yên Nhật (JPY)
Vàng đang giao dịch gần mức 4.877$, gặp khó khăn trong việc phục hồi mức 5.000$.
Thứ Tư, ngày 18 tháng 2:
Thứ Năm, ngày 19 tháng 2:
Thứ Sáu, ngày 20 tháng 2:
Vàng đóng vai trò quan trọng trong lịch sử loài người vì nó được sử dụng rộng rãi như một phương tiện lưu trữ giá trị và phương tiện trao đổi. Hiện nay, ngoài độ sáng bóng và công dụng làm đồ trang sức, kim loại quý này được coi rộng rãi là một tài sản trú ẩn an toàn, nghĩa là nó được coi là một khoản đầu tư tốt trong thời kỳ hỗn loạn. Vàng cũng được coi rộng rãi là một biện pháp phòng ngừa lạm phát và chống lại sự mất giá của tiền tệ vì nó không phụ thuộc vào bất kỳ đơn vị phát hành hoặc chính phủ cụ thể nào.
Ngân hàng trung ương là những người nắm giữ Vàng lớn nhất. Với mục tiêu hỗ trợ đồng tiền của mình trong thời kỳ hỗn loạn, các ngân hàng trung ương có xu hướng đa dạng hóa dự trữ của mình và mua Vàng để cải thiện sức mạnh được nhận thức của nền kinh tế và đồng tiền. Dự trữ Vàng cao có thể là nguồn tin cậy cho khả năng thanh toán của một quốc gia. Theo dữ liệu từ Hội đồng Vàng Thế giới, các ngân hàng trung ương đã bổ sung 1.136 tấn Vàng trị giá khoảng 70 tỷ đô la vào dự trữ của mình vào năm 2022. Đây là mức mua hàng năm cao nhất kể từ khi bắt đầu ghi chép. Các ngân hàng trung ương từ các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ đang nhanh chóng tăng dự trữ Vàng của mình.
Vàng có mối tương quan nghịch đảo với Đô la Mỹ và Kho bạc Hoa Kỳ, cả hai đều là tài sản dự trữ và trú ẩn an toàn chính. Khi Đô la mất giá, Vàng có xu hướng tăng, cho phép các nhà đầu tư và ngân hàng trung ương đa dạng hóa tài sản của họ trong thời kỳ hỗn loạn. Vàng cũng có mối tương quan nghịch đảo với tài sản rủi ro. Một đợt tăng giá trên thị trường chứng khoán có xu hướng làm suy yếu giá Vàng, trong khi bán tháo trên các thị trường rủi ro hơn có xu hướng ủng hộ kim loại quý.
Giá có thể biến động do nhiều yếu tố khác nhau. Bất ổn địa chính trị hoặc lo ngại về suy thoái kinh tế sâu có thể nhanh chóng khiến giá Vàng tăng cao do tình trạng trú ẩn an toàn của nó. Là một tài sản không có lợi suất, Vàng có xu hướng tăng khi lãi suất thấp hơn, trong khi chi phí tiền tệ cao hơn thường gây áp lực lên kim loại màu vàng. Tuy nhiên, hầu hết các động thái đều phụ thuộc vào cách Đồng đô la Mỹ (USD) hoạt động vì tài sản được định giá bằng đô la (XAU/USD). Đồng đô la mạnh có xu hướng giữ giá Vàng được kiểm soát, trong khi đồng đô la yếu hơn có khả năng đẩy giá Vàng lên.