Đồng bảng Anh (GBP) ghi nhận mức giảm nhẹ so với Đô la Mỹ (USD) vào thứ Năm, giao dịch ở mức 1,3460 tại thời điểm viết bài, giảm từ mức đỉnh hôm thứ Tư là 1,3486. Điều này khiến cặp GBP/USD dao động trong biên độ 100 pip, với phe mua bị chặn dưới mốc 1,3500 trong khi đồng đô la Mỹ yếu tiếp tục hỗ trợ các nỗ lực giảm giá trên vùng 1,3400.
Đồng bảng Anh nhận được một số hỗ trợ vào thứ Tư từ việc điều chỉnh tăng số liệu PMI Dịch vụ S&P Global tháng 7 và một báo cáo việc làm ảm đạm khác tại Mỹ, điều này làm dấy lên nghi ngờ về báo cáo Bảng lương phi nông nghiệp vào thứ Sáu và tiếp tục làm nguội bớt kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang tăng lãi suất.
Các chiến lược gia tại Scotiabank mô tả giọng điệu của đồng bảng là "trung lập/thiên tăng," nhấn mạnh "mức tăng vững chắc của Cable vào tuần trước và các dao động xu hướng nghiêng về tăng (nhưng vẫn yếu) cho thấy một số tiềm năng tăng giá đối với đồng bảng, tuy nhiên." Theo quan điểm của họ, "đà tăng vượt qua vùng thấp 1,35 sẽ cho phép giao ngay kiểm tra lại đỉnh gần đây quanh 1,3555/60," trong khi "mức hỗ trợ là 1,3390/00."
Ở chiều ngược lại, Đô la Mỹ vẫn chịu áp lực trong bối cảnh lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ giảm. Các dữ liệu kinh tế vĩ mô gần đây không thực sự hỗ trợ cho việc thắt chặt tiền tệ hơn nữa, và đã khiến các nhà giao dịch hạ đặt cược về việc tăng lãi suất vào tháng 9 xuống còn 54% từ mức 67% hồi đầu tuần.
Ngoài ra, các nhà phân tích tại MUFG cho rằng những nghi ngờ về tính độc lập của Fed đang tạo thêm áp lực lên USD, và dẫn một báo cáo của Wall Street Journal nhấn mạnh các cuộc gặp "lặp đi lặp lại" giữa Tổng thống Donald Trump và Thống đốc Fed Kevin Warsh kể từ khi ông tiếp quản tại Fed. WSJ cho biết có những đợt gọi điện "nhiều lần trong vài ngày liên tiếp," một mô hình "sẽ chỉ củng cố ấn tượng về ảnh hưởng chính trị lớn hơn làm suy yếu tính độc lập của Fed."
MUFG cũng cảnh báo rằng "những lo ngại xuất phát từ Washington về diễn biến thị trường tài chính khó có thể tạo niềm tin cho các nhà đầu tư toàn cầu khi nắm giữ tài sản Mỹ và có thể báo hiệu một giai đoạn gia tăng phòng hộ đồng đô la Mỹ giống như tháng 1 năm nay, điều này sẽ là tin xấu đối với đồng đô la."
Chính sách tiền tệ tại Hoa Kỳ được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được các mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, làm tăng chi phí đi vay trên toàn bộ nền kinh tế. Điều này dẫn đến đồng Đô la Mỹ (USD) mạnh hơn vì khiến Hoa Kỳ trở thành nơi hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư quốc tế gửi tiền của họ. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất để khuyến khích đi vay, điều này gây áp lực lên Đồng bạc xanh.
Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tổ chức tám cuộc họp chính sách mỗi năm, trong đó Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đánh giá các điều kiện kinh tế và đưa ra các quyết định về chính sách tiền tệ. FOMC có sự tham dự của mười hai quan chức Fed – bảy thành viên của Hội đồng Thống đốc, Thống đốc Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York và bốn trong số mười một Thống đốc Ngân hàng Dự trữ khu vực còn lại, những người phục vụ nhiệm kỳ một năm theo chế độ luân phiên.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang có thể dùng đến một chính sách có tên là Nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bị kẹt. Đây là một biện pháp chính sách không theo tiêu chuẩn được sử dụng trong các cuộc khủng hoảng hoặc khi lạm phát cực kỳ thấp. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Điều này liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu cấp cao từ các tổ chức tài chính. QE thường làm suy yếu Đồng đô la Mỹ.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại của Nới lỏng định lượng (QE), theo đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư số tiền gốc từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn để mua trái phiếu mới. Thông thường, điều này có lợi cho giá trị của đồng đô la Mỹ.