Đồng yên Nhật (JPY) đã trả lại những lợi nhuận ban đầu và chuyển sang mức tiêu cực so với đồng đô la Mỹ (USD) trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Năm. Cặp USD/JPY tăng lên gần 157,35 khi đồng đô la Mỹ tiếp tục hành trình tăng giá sau một đợt điều chỉnh.
Tính đến thời điểm viết bài, Chỉ số đô la Mỹ (DXY), theo dõi giá trị của đồng bạc xanh so với sáu đồng tiền chính, giao dịch cao hơn 0,4% ở mức gần 99,15.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ mạnh nhất so với Đô la Úc.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | 0.40% | 0.40% | 0.08% | 0.12% | 0.78% | 0.52% | 0.26% | |
| EUR | -0.40% | -0.01% | -0.33% | -0.27% | 0.37% | 0.11% | -0.14% | |
| GBP | -0.40% | 0.01% | -0.34% | -0.26% | 0.39% | 0.11% | -0.13% | |
| JPY | -0.08% | 0.33% | 0.34% | 0.05% | 0.71% | 0.42% | 0.18% | |
| CAD | -0.12% | 0.27% | 0.26% | -0.05% | 0.67% | 0.38% | 0.11% | |
| AUD | -0.78% | -0.37% | -0.39% | -0.71% | -0.67% | -0.26% | -0.52% | |
| NZD | -0.52% | -0.11% | -0.11% | -0.42% | -0.38% | 0.26% | -0.26% | |
| CHF | -0.26% | 0.14% | 0.13% | -0.18% | -0.11% | 0.52% | 0.26% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Đồng đô la Mỹ tăng giá khi dữ liệu việc làm ADP của Mỹ lạc quan và dữ liệu PMI ngành dịch vụ ISM mạnh mẽ bất ngờ cho tháng 2 đã buộc các nhà giao dịch phải giảm bớt cược hỗ trợ việc cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) trong cuộc họp chính sách tháng 7.
ADP báo cáo rằng khu vực tư nhân của Mỹ đã tạo ra 63.000 việc làm mới trong tháng 2, cao hơn đáng kể so với ước tính 50.000 và mức đọc trước đó là 11.000. Trong khi đó, báo cáo ISM cho thấy PMI ngành dịch vụ đạt 56,1, trong khi dự kiến sẽ thấp hơn ở mức 53,5 so với 53,8 trong tháng 1.
Theo công cụ CME FedWatch, xác suất Fed cắt giảm lãi suất trong cuộc họp tháng 7 đã tăng lên 50,2% từ mức 37,9% được ghi nhận vào thứ Ba.
Ngoài việc giảm bớt cược dovish đối với Fed, nhu cầu mạnh mẽ đối với tài sản trú ẩn an toàn trong bối cảnh xung đột gia tăng ở Trung Đông cũng đang hỗ trợ đồng đô la Mỹ. Cuộc chiến giữa Mỹ, Iran và Israel dường như khó có thể kết thúc trong thời gian tới khi Tehran phủ nhận các báo cáo cho rằng họ sẵn sàng nói chuyện về lệnh ngừng bắn.
Mặc dù đồng đô la Mỹ vượt trội hơn đồng yên Nhật (JPY), nhưng đồng này vẫn tăng giá so với các đồng tiền khác khi nhu cầu trú ẩn an toàn của nó cũng được cải thiện trong bối cảnh cuộc chiến Mỹ-Iran.
Chính sách tiền tệ tại Hoa Kỳ được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được các mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, làm tăng chi phí đi vay trên toàn bộ nền kinh tế. Điều này dẫn đến đồng Đô la Mỹ (USD) mạnh hơn vì khiến Hoa Kỳ trở thành nơi hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư quốc tế gửi tiền của họ. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất để khuyến khích đi vay, điều này gây áp lực lên Đồng bạc xanh.
Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tổ chức tám cuộc họp chính sách mỗi năm, trong đó Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đánh giá các điều kiện kinh tế và đưa ra các quyết định về chính sách tiền tệ. FOMC có sự tham dự của mười hai quan chức Fed – bảy thành viên của Hội đồng Thống đốc, Thống đốc Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York và bốn trong số mười một Thống đốc Ngân hàng Dự trữ khu vực còn lại, những người phục vụ nhiệm kỳ một năm theo chế độ luân phiên.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang có thể dùng đến một chính sách có tên là Nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bị kẹt. Đây là một biện pháp chính sách không theo tiêu chuẩn được sử dụng trong các cuộc khủng hoảng hoặc khi lạm phát cực kỳ thấp. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Điều này liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu cấp cao từ các tổ chức tài chính. QE thường làm suy yếu Đồng đô la Mỹ.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại của Nới lỏng định lượng (QE), theo đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư số tiền gốc từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn để mua trái phiếu mới. Thông thường, điều này có lợi cho giá trị của đồng đô la Mỹ.