Thành viên Hội đồng Thống đốc Ngân hàng Trung ương Châu Âu Martins Kazaks cho biết trong một bài thuyết trình tại sự kiện vào thứ Năm, ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục quyết định từng cuộc họp dựa trên dữ liệu mới nhận được.
Không có hành động chính sách ngay lập tức trong tháng Tư không có nghĩa là áp dụng cách tiếp cận bỏ qua đối với đợt lạm phát hiện tại.
Stagflation không phải là một phần của kịch bản cơ sở hiện tại.
Lạm phát có khả năng duy trì ở mức cao trong một thời gian, ngay cả khi xung đột Trung Đông được giải quyết nhanh chóng.
Càng kéo dài cú sốc, rủi ro về các tác động vòng hai và kỳ vọng lạm phát tăng lên càng lớn.
Duy trì kỳ vọng lạm phát được neo giữ là ưu tiên ngay lập tức của chính sách tiền tệ.
Sự sai lệch lớn và kéo dài của lạm phát sẽ không được dung thứ theo chiến lược chính sách tiền tệ của ECB.
Chúng ta đang rời xa kịch bản cơ sở tháng 3 năm 2026.
Kỳ vọng lạm phát trên thị trường tài chính vẫn được neo giữ rộng rãi.
Thị trường tài chính đã thắt chặt điều kiện tài chính, hỗ trợ truyền dẫn chính sách, nhưng để có hiệu quả bền vững cần được củng cố bởi chính sách tiền tệ.
Các chỉ số lạm phát cơ bản cho đến nay vẫn ổn định mặc dù có các cú sốc giá bên ngoài, trong khi chỉ số theo dõi tiền lương của ECB cho thấy tăng trưởng tiền lương sẽ chậm lại trong tương lai.
Chính sách tài khóa vẫn là một nguồn có thể gây áp lực lạm phát bổ sung.
Theo thời gian, tăng trưởng yếu hơn có thể yêu cầu chính sách chuyển hướng nếu nó làm tăng áp lực giảm lên lạm phát trung hạn.
Tại thời điểm viết bài, cặp EUR/USD gần như đi ngang trong ngày, vẫn giữ vững mức 1,1700.
Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) tại Frankfurt, Đức, là ngân hàng dự trữ của Khu vực đồng tiền chung châu Âu. ECB đặt ra lãi suất và quản lý chính sách tiền tệ cho khu vực. Nhiệm vụ chính của ECB là duy trì sự ổn định giá cả, nghĩa là giữ lạm phát ở mức khoảng 2%. Công cụ chính để đạt được mục tiêu này là tăng hoặc giảm lãi suất. Lãi suất tương đối cao thường sẽ dẫn đến đồng Euro mạnh hơn và ngược lại. Hội đồng quản lý ECB đưa ra quyết định về chính sách tiền tệ tại các cuộc họp được tổ chức tám lần một năm. Các quyết định được đưa ra bởi người đứng đầu các ngân hàng quốc gia Khu vực đồng tiền chung châu Âu và sáu thành viên thường trực, bao gồm Thống đốc ECB, Christine Lagarde.
Trong những tình huống cực đoan, Ngân hàng Trung ương Châu Âu có thể ban hành một công cụ chính sách gọi là Nới lỏng định lượng. Nới lỏng định lượng (QE) là quá trình ECB in Euro và sử dụng chúng để mua tài sản – thường là trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu doanh nghiệp – từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác. QE thường dẫn đến đồng Euro yếu hơn. QE là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được mục tiêu ổn định giá cả. ECB đã sử dụng biện pháp này trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2009-2011, năm 2015 khi lạm phát vẫn ở mức thấp một cách ngoan cố, cũng như trong đại dịch covid.
Thắt chặt định lượng (QT) là ngược lại với Nới lỏng định lượng (QE). Nó được thực hiện sau QE khi nền kinh tế đang phục hồi và lạm phát bắt đầu tăng. Trong khi ở QE, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) mua trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp từ các tổ chức tài chính để cung cấp cho họ thanh khoản, thì ở QT, ECB ngừng mua thêm trái phiếu và ngừng tái đầu tư số tiền gốc đáo hạn vào các trái phiếu mà họ đang nắm giữ. Thường thì điều đó là tích cực (hoặc tăng giá) đối với đồng Euro.