Đồng đô la Mỹ (USD) đang thể hiện diễn biến trầm lắng so với các đồng tiền cùng nhóm trước thềm công bố dữ liệu Thay đổi Việc làm ADP của Mỹ và Chỉ số người quản trị mua hàng (PMI) ngành dịch vụ ISM của Mỹ cho tháng 7, sẽ được công bố trong phiên Bắc Mỹ.
Tại thời điểm viết bài, Chỉ số đô la Mỹ (DXY), thước đo giá trị của đồng bạc xanh so với sáu đồng tiền chủ chốt, giao dịch giảm nhẹ gần mức 99,80.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ là yếu nhất so với Bảng Anh.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.09% | -0.14% | -0.03% | 0.00% | 0.03% | 0.47% | 0.03% | |
| EUR | 0.09% | -0.03% | 0.05% | 0.10% | 0.12% | 0.55% | 0.12% | |
| GBP | 0.14% | 0.03% | 0.08% | 0.13% | 0.15% | 0.61% | 0.16% | |
| JPY | 0.03% | -0.05% | -0.08% | 0.05% | 0.08% | 0.51% | 0.06% | |
| CAD | -0.00% | -0.10% | -0.13% | -0.05% | 0.03% | 0.49% | 0.03% | |
| AUD | -0.03% | -0.12% | -0.15% | -0.08% | -0.03% | 0.44% | -0.02% | |
| NZD | -0.47% | -0.55% | -0.61% | -0.51% | -0.49% | -0.44% | -0.43% | |
| CHF | -0.03% | -0.12% | -0.16% | -0.06% | -0.03% | 0.02% | 0.43% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Tác động của dữ liệu Mỹ sẽ rất đáng kể đối với kỳ vọng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang (Fed), khi các nhà hoạch định chính sách đã từ bỏ việc đưa ra "định hướng trước" về chính sách tiền tệ.
Theo ước tính, ADP sẽ cho thấy khu vực tư nhân có thêm 70K việc làm mới, thấp hơn mức 98K của tháng 6. PMI ngành dịch vụ ISM được dự báo tăng lên 54,5 từ mức 54,0 trong tháng 6.
Hiện tại, công cụ CME FedWatch cho thấy 56,7% khả năng Fed sẽ tăng lãi suất tại cuộc họp chính sách tháng 9.
Trên mặt trận toàn cầu, nhà đầu tư đang chờ kết quả các cuộc đàm phán đang diễn ra giữa Mỹ và Iran liên quan đến Eo biển Hormuz và tham vọng hạt nhân của Tehran. Hôm thứ Ba, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent cho biết trong một cuộc phỏng vấn với CNBC rằng Washington có thể đạt được thỏa thuận với Iran về việc mở lại Eo biển Hormuz trong vòng hai ngày tới. Kịch bản như vậy sẽ gây áp lực lên giá dầu bằng cách làm giảm gián đoạn nguồn cung và neo giữ kỳ vọng lạm phát.
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.