Đồng đô la Mỹ (USD) bám sát đà tăng của ngày hôm trước trong phiên châu Á vào thứ Sáu, khi giá dầu tăng vọt do rủi ro nguồn cung năng lượng ở Trung Đông gia tăng đã khơi lại kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất.
Tại thời điểm viết bài, Chỉ số đô la Mỹ (DXY), theo dõi giá trị của đồng bạc xanh so với sáu loại tiền tệ chính, giao dịch vững gần mức cao nhất trong hơn ba tuần tại 101,50.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê tuần này. Đô la Mỹ mạnh nhất so với Đồng Franc Thụy Sĩ.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | 0.43% | 1.05% | 0.92% | 0.45% | -0.13% | 0.98% | 1.08% | |
| EUR | -0.43% | 0.63% | 0.43% | 0.02% | -0.53% | 0.57% | 0.64% | |
| GBP | -1.05% | -0.63% | -0.22% | -0.62% | -1.17% | -0.06% | 0.05% | |
| JPY | -0.92% | -0.43% | 0.22% | -0.38% | -0.99% | 0.00% | 0.25% | |
| CAD | -0.45% | -0.02% | 0.62% | 0.38% | -0.54% | 0.39% | 0.66% | |
| AUD | 0.13% | 0.53% | 1.17% | 0.99% | 0.54% | 1.10% | 1.23% | |
| NZD | -0.98% | -0.57% | 0.06% | -0.01% | -0.39% | -1.10% | 0.13% | |
| CHF | -1.08% | -0.64% | -0.05% | -0.25% | -0.66% | -1.23% | -0.13% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Trong phiên giao dịch châu Á, giá dầu WTI giao dịch giảm 0,5% xuống gần 90,60$, nhưng vẫn gần mức cao nhất trong hơn sáu tuần là 92,25$ được ghi nhận vào thứ Năm. Giá dầu cao hơn làm gia tăng kỳ vọng lạm phát, một kịch bản khiến các quan chức Fed không muốn cân nhắc các điều kiện tiền tệ nới lỏng.
Việc đóng cửa eo biển Bab el-Mandeb, cùng với eo biển Hormuz, đã làm gián đoạn 27% nguồn cung năng lượng toàn cầu.
Trong khi đó, không có dấu hiệu nào về một bước đột phá ngoại giao giữa Mỹ và Iran cho thấy các cú sốc nguồn cung có thể kéo dài. Vào thứ Năm, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói rằng Washington sẽ quy trách nhiệm cho Iran về các hành động của lực lượng Houthi ở Yemen và cảnh báo rằng cả Iran và các đồng minh Houthi của nước này sẽ sớm nhận một "hình phạt quân sự lớn".
Theo công cụ CME FedWatch, xác suất Fed tăng lãi suất tại cuộc họp chính sách vào tuần tới hiện ở mức 35,8%, cao hơn đáng kể so với mức 11,8% được ghi nhận vào tuần trước. Triển vọng Fed tăng lãi suất tương tự như trạng thái hiện tại cách đây một tháng, nhưng sau đó đã hạ nhiệt sau khi dữ liệu Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) mềm của Mỹ cho tháng 6 được công bố.
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.