Đồng đô la Mỹ (USD) tăng 0,15% lên gần 160,00 so với đồng yên Nhật (JPY) trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Ba. Cặp USD/JPY mạnh lên khi đồng đô la Mỹ vượt trội nhờ lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng vọt trong bối cảnh lo ngại về tài khóa và những câu hỏi về độ tin cậy trong quá trình ra quyết định của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Tại thời điểm viết bài, Chỉ số Đô la Mỹ (DXY), thước đo giá trị của đồng bạc xanh so với sáu đồng tiền lớn, giao dịch cao hơn 0,2% lên gần 99,60. Lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm mức cao mới trong 19 tháng ở 4,78% và đang tiến gần mức cao nhất nhiều năm là 4,81%.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ mạnh nhất so với Đô la New Zealand.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | 0.18% | 0.05% | 0.10% | 0.10% | 0.34% | 0.37% | 0.19% | |
| EUR | -0.18% | -0.12% | -0.06% | -0.09% | 0.15% | 0.17% | 0.00% | |
| GBP | -0.05% | 0.12% | 0.04% | 0.08% | 0.27% | 0.30% | 0.13% | |
| JPY | -0.10% | 0.06% | -0.04% | 0.00% | 0.23% | 0.28% | 0.09% | |
| CAD | -0.10% | 0.09% | -0.08% | -0.01% | 0.23% | 0.24% | 0.08% | |
| AUD | -0.34% | -0.15% | -0.27% | -0.23% | -0.23% | 0.04% | -0.15% | |
| NZD | -0.37% | -0.17% | -0.30% | -0.28% | -0.24% | -0.04% | -0.17% | |
| CHF | -0.19% | -0.01% | -0.13% | -0.09% | -0.08% | 0.15% | 0.17% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Các chiến lược gia tại BNY Markets nhấn mạnh rằng, mặc dù ông "không đi xa đến mức đưa ra hướng dẫn trước rõ ràng trong bài phát biểu tại Jackson Hole," Chủ tịch Fed Kevin Warsh "đã tiến sát nhất có thể đến ranh giới khi ủng hộ việc tăng lãi suất," với thị trường hiện "định giá xác suất gần hai phần ba cho một đợt tăng tại cuộc họp FOMC ngày 16 tháng 9." Ngoài quyết định đó, họ lưu ý rằng "triển vọng vẫn còn mờ mịt," nhưng hợp đồng tương lai vẫn "cho thấy ít nhất một đợt tăng bổ sung vào đầu năm 2027 và còn dư địa tăng thêm – dù không phải một đợt tăng đầy đủ – sau đó, với tổng cộng khoảng hai lần rưỡi hiện đang được định giá."
BNY nhận thấy việc định giá lại lãi suất đã đi kèm với một động thái đáng chú ý ở phần cuối của đường cong: "Phần đầu dài đã bị bán tháo, phản ánh quan điểm của nhiều người (bao gồm cả chúng tôi) rằng một Fed diều hâu hơn sẽ giúp kéo lợi suất xuống khi uy tín được xem là sẽ được cải thiện." Thay vào đó, "cả lợi suất kỳ hạn 10 năm và 30 năm đều đã tăng mạnh hơn kể từ thứ Sáu," một diễn biến "tiếp tục củng cố quan điểm của chúng tôi rằng phần cuối dài của đường cong đang bị dẫn dắt bởi một yếu tố nào đó khác ngoài chỉ kỳ vọng lạm phát và các suy đoán về chính sách." BNY kết luận, "Chúng tôi cho rằng những lo ngại về tài khóa và nghi ngờ về uy tín thể chế là thủ phạm."
Trong khi đó, đồng yên Nhật gặp khó khăn trong việc thu hút lực mua dù các chuyên gia thị trường tin tưởng rằng Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) sẽ tăng lãi suất tại cuộc họp chính sách trong tháng này.
Các nhà phân tích tại Danske Bank nhấn mạnh rằng bình luận mới nhất từ BoJ đã làm sắc nét kỳ vọng của thị trường về việc tiếp tục thắt chặt. Họ lưu ý rằng "thị trường vốn đã định giá cao khả năng tăng 25 điểm cơ bản lên 1,25% tại cuộc họp tháng 9," nhưng nhấn mạnh rằng "những phát biểu này đã gia tăng áp lực khi thị trường hiện đang định giá khả năng tăng lãi suất ở mức 70%."

Trên biểu đồ hàng ngày, USD/JPY giao dịch tại 159,91. Cặp tiền tệ này giữ trên đường trung bình động hàm mũ (EMA) 20 ngày tại 159,59, cho thấy xu hướng ngắn hạn vẫn hơi thiên về tăng giá khi giá tôn trọng vùng hỗ trợ xu hướng. Động lượng mang tính xây dựng hơn là mạnh mẽ, với Chỉ báo sức mạnh tương đối (RSI) 14 ngày dao động gần 51, gợi ý xu hướng tăng nhẹ sau khi phục hồi từ các mức đọc quá bán trước đó.
Ở chiều giảm, mức hỗ trợ ngay lập tức nằm tại EMA 20 ngày quanh 159,59, nơi người mua có dư địa để bảo vệ đà tăng hiện tại. Ở chiều tăng, cặp tiền tệ này cần một sự phá vỡ quyết định lên trên mức đỉnh ngày 28 tháng 8 tại 160,20 để kéo dài đợt phục hồi hướng tới mức đỉnh ngày 31 tháng 7 tại 160,88.
(Phân tích kỹ thuật của bài viết này được thực hiện với sự hỗ trợ của một công cụ AI. Tìm hiểu thêm.)
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.