Đồng Euro (EUR) đang giao dịch cao hơn so với đồng đô la Mỹ (USD) vào thứ Hai, được hỗ trợ bởi sự cải thiện vừa phải trong tâm lý thị trường, giữa tin tức về khả năng ngừng bắn trong cuộc chiến ở Iran. Cặp tiền này bật lên từ mức thấp phiên ở 1,1505, nhưng cho đến nay chưa thể mở rộng đà tăng vượt qua 1,1570 và vẫn bị kẹt trong phạm vi giao dịch của tuần trước.
Nhà đầu tư đã phản ứng với sự nhiệt tình vừa phải trước các báo cáo rằng Mỹ và Iran đã nhận được kế hoạch ngừng bắn 45 ngày, có thể chấm dứt ngay lập tức các hành động thù địch và mở lại Eo biển Hormuz. Tuy nhiên, thị trường vẫn thận trọng sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tái khẳng định mối đe dọa phá hủy cơ sở hạ tầng dân sự và các khu năng lượng của Iran nếu họ không mở lại Hormuz trước 8 giờ tối theo giờ Đông Mỹ thứ Ba (00:00 GMT).
Trên mặt trận kinh tế vĩ mô, báo cáo Bảng lương phi nông nghiệp của Mỹ công bố vào thứ Sáu tuần trước cho thấy mức tăng 178 nghìn việc làm ròng trong tháng Ba, vượt kỳ vọng tăng 60 nghìn. Vào thứ Hai, khi hầu hết các thị trường đóng cửa do nghỉ lễ Phục sinh, trọng tâm chuyển sang Chỉ số PMI Dịch vụ ISM của Mỹ. Hoạt động dịch vụ được dự báo đã chậm lại vừa phải trong tháng Ba, nhưng vẫn ở mức phù hợp với sự mở rộng lành mạnh.
EUR/USD đang dao động ở giữa phạm vi 1,1500, với xu hướng ngắn hạn trung lập và hơi nghiêng về giảm nhẹ. Chỉ số sức mạnh tương đối (RSI) trên biểu đồ 4 giờ giảm về mức gần đường giữa 50, cho thấy đà giảm nhiệt trong khi đường trung bình động hội tụ phân kỳ (MACD) lùi về gần đường tín hiệu quanh khu vực số 0, với biểu đồ cột thu hẹp lại, củng cố cho sự mất niềm tin về phương hướng.
Mức kháng cự ngay lập tức hiện được đặt tại khu vực 1,1570, chặn đường tiến tới các đỉnh cuối tháng Ba và đầu tháng Tư, nằm trong khoảng 1,1630 đến 1,1640. Xa hơn lên trên, mục tiêu là đỉnh ngày 10 tháng Ba, ở mức 1,1667.
Về phía hỗ trợ, mức hỗ trợ ban đầu là mức thấp phiên, ngay trên 1,1500, trước các mức thấp ngày 19 và 30 tháng Ba gần 1,1445 và mức thấp giữa tháng Ba ở khu vực 1,1410.
(Phân tích kỹ thuật của bài viết này được thực hiện với sự trợ giúp của công cụ AI.)
Chỉ số người quản lý mua hàng (PMI) ngành dịch vụ của Viện Quản lý Cung ứng (ISM), được công bố hàng tháng, là chỉ báo nhanh đánh giá hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ của Mỹ, chiếm phần lớn nền kinh tế. Chỉ báo này được thu thập từ một cuộc khảo sát các giám đốc cung ứng trên khắp nước Mỹ dựa trên thông tin họ thu thập được trong các tổ chức của mình. Các phản hồi khảo sát phản ánh sự thay đổi, nếu có, trong tháng hiện tại so với tháng trước. Chỉ số trên 50 cho thấy nền kinh tế dịch vụ nói chung đang mở rộng, là dấu hiệu tăng giá cho đồng Đô la Mỹ (USD). Chỉ số dưới 50 cho thấy hoạt động của lĩnh vực dịch vụ nói chung đang suy giảm, được coi là tín hiệu giảm giá đối với USD.
Đọc thêmLần phát hành tiếp theo: Th 2 thg 4 06, 2026 14:00
Tần số: Hàng tháng
Đồng thuận: 55
Trước đó: 56.1
Nguồn: Institute for Supply Management
Chỉ số nhà quản trị mua dịch vụ (PMI) của Viện quản lý cung ứng (ISM) tiết lộ các điều kiện hiện tại trong lĩnh vực dịch vụ của Mỹ, vốn trước đây là ngành đóng góp lớn vào GDP. Dữ liệu trên 50 cho thấy sự mở rộng trong hoạt động kinh tế của khu vực dịch vụ. Các chỉ số mạnh hơn mong đợi thường giúp USD tập hợp sức mạnh chống lại các đồng tiền chính khác. Ngoài chỉ số PMI toàn phần, Chỉ số Việc làm và Chỉ số Giá phải trả cũng được các nhà đầu tư theo dõi chặt chẽ vì chúng cung cấp những hiểu biết hữu ích về tình trạng của thị trường lao động và lạm phát.
Giá phải trả ngành dịch vụ từ ISM: PMI phi sản xuất từ ISM do Viện Quản lý Cung ứng (ISM) phát hành cho thấy các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực phi sản xuất của Hoa Kỳ, có tính đến kỳ vọng về sản xuất trong tương lai, đơn đặt hàng mới, hàng tồn kho, việc làm và giao hàng. Đây là một chỉ báo quan trọng về tình trạng kinh tế tổng thể ở Mỹ. Giá phải trả ngành dịch vụ từ ISM thể hiện tâm lý kinh doanh liên quan đến lạm phát trong tương lai. Con số cao được coi là tích cực đối với USD, trong khi con số thấp được coi là tiêu cực.
Đọc thêmLần phát hành tiếp theo: Th 2 thg 4 06, 2026 14:00
Tần số: Hàng tháng
Đồng thuận: -
Trước đó: 63
Nguồn: Institute for Supply Management