Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) đã công bố Tóm tắt ý kiến từ cuộc họp chính sách tiền tệ tháng 6, với những phát hiện chính được nêu dưới đây.
Một thành viên cho biết việc điều chỉnh hỗ trợ tiền tệ trở nên phù hợp hơn khi biến động tỷ giá làm tăng chi phí nhập khẩu
Một thành viên cho rằng phù hợp để tiếp tục tăng lãi suất khi điều kiện tài chính vẫn đang nới lỏng
Ngay cả sau khi tăng lãi suất vào tháng Sáu, ngân hàng trung ương phải giữ lựa chọn tăng thêm nếu kinh tế, giá cả theo dự báo.
Một thành viên cho rằng lãi suất chính sách nên được nâng lên mức trung lập càng sớm càng tốt.
Một thành viên cho biết ngân hàng trung ương phải tăng lãi suất chính sách gần mức trung lập sớm để ngăn chặn các đợt tăng lớn, đột ngột sau này.
Mức lãi suất trung lập của Nhật Bản khoảng 2%, BoJ nên tăng lãi suất mỗi vài tháng.
Đại diện Văn phòng Nội các cho biết BoJ phải đảm bảo trách nhiệm giải trình về việc tăng lãi suất, thực hiện các bước chủ động, phù hợp trong bối cảnh biến động kinh tế quá mức.
Đại diện Văn phòng Nội các nói BoJ phải đánh giá tác động kinh tế vĩ mô của việc thu hẹp bảng cân đối kế toán, thực hiện các bước để ổn định thị trường.
Một thành viên lưu ý mối quan ngại về sự chậm lại của kinh tế đã giảm bớt.
Rủi ro giảm đối với sản lượng, việc làm có thể làm gián đoạn chu trình tích cực giữa tiền lương và giá cả, có thể đẩy Nhật Bản trở lại giảm phát.
Rủi ro giảm đối với sản lượng, việc làm có thể làm gián đoạn chu trình tích cực giữa tiền lương và giá cả, có thể đẩy Nhật Bản trở lại giảm phát.
Một thành viên cảnh báo việc các công ty chủ động định giá có thể đẩy lạm phát cao hơn.
Một thành viên lưu ý sự tăng giá bán buôn rõ ràng hơn, đặc biệt là trong chi phí phân phối, có thể ảnh hưởng đến lạm phát cơ bản.
Theo Tóm tắt ý kiến của BoJ, cặp USD/JPY tăng 0,02% trong ngày để giao dịch ở mức 161,60 tính đến thời điểm viết bài.
Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) là ngân hàng trung ương Nhật Bản, nơi thiết lập chính sách tiền tệ trong nước. Nhiệm vụ của ngân hàng này là phát hành tiền giấy và thực hiện kiểm soát tiền tệ và tiền tệ để đảm bảo ổn định giá cả, tức là mục tiêu lạm phát khoảng 2%.
Ngân hàng trung ương Nhật Bản đã bắt đầu thực hiện chính sách tiền tệ cực kỳ nới lỏng vào năm 2013 nhằm kích thích nền kinh tế và thúc đẩy lạm phát trong bối cảnh lạm phát thấp. Chính sách của ngân hàng dựa trên Nới lỏng định lượng và định tính (QQE), hoặc in tiền giấy để mua tài sản như trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu doanh nghiệp nhằm cung cấp thanh khoản. Vào năm 2016, ngân hàng đã tăng gấp đôi chiến lược của mình và nới lỏng chính sách hơn nữa bằng cách đầu tiên áp dụng lãi suất âm và sau đó trực tiếp kiểm soát lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm. Vào tháng 3 năm 2024, BoJ đã nâng lãi suất, về cơ bản là rút lui khỏi lập trường chính sách tiền tệ cực kỳ nới lỏng.
Gói kích thích khổng lồ của Ngân hàng đã khiến đồng Yên mất giá so với các đồng tiền chính. Quá trình này trở nên trầm trọng hơn vào năm 2022 và 2023 do sự khác biệt chính sách ngày càng tăng giữa Ngân hàng trung ương Nhật Bản và các ngân hàng trung ương chính khác, những ngân hàng đã chọn tăng mạnh lãi suất để chống lại mức lạm phát cao trong nhiều thập kỷ. Chính sách của BoJ đã dẫn đến chênh lệch ngày càng lớn với các loại tiền tệ khác, kéo giá trị của đồng Yên xuống. Xu hướng này đã đảo ngược một phần vào năm 2024, khi BoJ quyết định từ bỏ lập trường chính sách cực kỳ lỏng lẻo của mình.
Đồng Yên yếu hơn và giá năng lượng toàn cầu tăng đột biến đã dẫn đến lạm phát của Nhật Bản tăng, vượt quá mục tiêu 2% của BoJ. Triển vọng tăng lương ở nước này – một yếu tố chính thúc đẩy lạm phát – cũng góp phần vào động thái này.