Các nguồn tin nói với Reuters tiết lộ rằng các nhà hoạch định chính sách của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) có khả năng sẽ tăng lãi suất "ít nhất" hai lần trong năm nay, bắt đầu từ tháng 6 nếu không có giải pháp cho cuộc xung đột Iran.
ECB đã giữ nguyên lãi suất tại cuộc họp tháng 4, đồng thời cho biết các cuộc thảo luận đang diễn ra để thắt chặt chính sách nhằm kiềm chế giá năng lượng tăng vọt.
Các nguồn tin giấu tên cho biết, "Họ dự kiến sẽ tăng lãi suất lần đầu vào tháng 6 nếu tình hình tiếp tục như hiện tại, với giao thông bị gián đoạn và giá Brent giao ngay trên 100$ một thùng."
Trong cuộc họp báo, Lagarde cho biết đã có những cuộc thảo luận kéo dài về việc tăng lãi suất, nhưng một nguồn tin quen thuộc với vấn đề này cho biết các nhà hoạch định chính sách đang nhắm đến một động thái vào tháng 6, không phải tháng 4.
Một nguồn tin khác tiết lộ rằng việc tăng lãi suất phụ thuộc vào kết quả của cuộc xung đột Mỹ-Iran, và một khả năng giảm leo thang có thể kích hoạt sự giảm giá dầu, điều này có thể cải thiện triển vọng kinh tế của khu vực đồng euro.
Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) tại Frankfurt, Đức, là ngân hàng dự trữ của Khu vực đồng tiền chung châu Âu. ECB đặt ra lãi suất và quản lý chính sách tiền tệ cho khu vực. Nhiệm vụ chính của ECB là duy trì sự ổn định giá cả, nghĩa là giữ lạm phát ở mức khoảng 2%. Công cụ chính để đạt được mục tiêu này là tăng hoặc giảm lãi suất. Lãi suất tương đối cao thường sẽ dẫn đến đồng Euro mạnh hơn và ngược lại. Hội đồng quản lý ECB đưa ra quyết định về chính sách tiền tệ tại các cuộc họp được tổ chức tám lần một năm. Các quyết định được đưa ra bởi người đứng đầu các ngân hàng quốc gia Khu vực đồng tiền chung châu Âu và sáu thành viên thường trực, bao gồm Thống đốc ECB, Christine Lagarde.
Trong những tình huống cực đoan, Ngân hàng Trung ương Châu Âu có thể ban hành một công cụ chính sách gọi là Nới lỏng định lượng. Nới lỏng định lượng (QE) là quá trình ECB in Euro và sử dụng chúng để mua tài sản – thường là trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu doanh nghiệp – từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác. QE thường dẫn đến đồng Euro yếu hơn. QE là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được mục tiêu ổn định giá cả. ECB đã sử dụng biện pháp này trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2009-2011, năm 2015 khi lạm phát vẫn ở mức thấp một cách ngoan cố, cũng như trong đại dịch covid.
Thắt chặt định lượng (QT) là ngược lại với Nới lỏng định lượng (QE). Nó được thực hiện sau QE khi nền kinh tế đang phục hồi và lạm phát bắt đầu tăng. Trong khi ở QE, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) mua trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp từ các tổ chức tài chính để cung cấp cho họ thanh khoản, thì ở QT, ECB ngừng mua thêm trái phiếu và ngừng tái đầu tư số tiền gốc đáo hạn vào các trái phiếu mà họ đang nắm giữ. Thường thì điều đó là tích cực (hoặc tăng giá) đối với đồng Euro.