Mary Daly, Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang (Fed) San Francisco, cho biết rằng một tháng dữ liệu không phải là quyết định, đồng thời cho biết lạm phát hiện đang vượt mục tiêu, cân bằng các rủi ro tính toán trong một cuộc phỏng vấn với CNBC vào thứ Sáu.
Không có một tháng dữ liệu nào là quyết định.
Cả hai mục tiêu đều là rủi ro hiện tại.
Bạn cần trung bình hai báo cáo bảng lương.
Số lượng việc làm không phải là một chỉ số rõ ràng, nhưng cũng không phải là một chỉ số sai.
Thị trường lao động đang dễ bị tổn thương.
Rất khác so với khi lạm phát dưới mục tiêu.
Hiện tại lạm phát đang vượt mục tiêu, đây là một phép tính cân bằng rủi ro.
Hy vọng rằng các đợt cắt giảm lãi suất năm ngoái sẽ tạo ra một mức sàn cho thị trường lao động, nhưng báo cáo này đã thu hút sự chú ý của tôi.
Với việc giá dầu tăng, câu hỏi là điều này sẽ kéo dài bao lâu.
Không thể bỏ qua báo cáo này, nhưng chỉ là một tháng dữ liệu.
Nếu điểm hòa vốn là 30K, chúng ta đang ở dưới mức đó, nhưng chỉ là một vài tháng dữ liệu.
Tiền lương cần phải là lạm phát cộng với tăng trưởng năng suất, điều này đang cao hơn.
Tăng trưởng tiền lương này không phải là dấu hiệu của sự phồng lên.
Lo ngại rằng thị trường lao động yếu hơn những gì chúng ta đã thấy.
Các rủi ro hai chiều.
Cú sốc giá dầu là một điều có thật, người tiêu dùng sẽ cảm nhận điều đó.
Thị trường lao động khiến tôi có một số lo ngại, nhưng các cuộc đình công, tuyết, chuẩn hóa dân số làm cho báo cáo khó diễn giải hơn.
Được hỏi liệu sự tăng giá dầu có giữ tay Fed lại trong việc cắt giảm hay không, bà nói điều đó phụ thuộc vào việc sự gián đoạn kéo dài bao lâu.
Cần thêm thời gian để quyết định.
Một chút lạc quan rằng AI sẽ giúp thúc đẩy năng suất, nhưng cần phải thấy điều đó.
Một lựa chọn chính sách khác là giữ lãi suất ổn định.
Không ở trong vị trí để nghĩ rằng chúng tôi nên tăng lãi suất.
Có một vấn đề thực sự nếu chúng tôi nên hành động ngay lập tức về thị trường lao động, hoặc chờ đợi.
Chúng tôi phải giữ vững trong khi thu thập thêm thông tin.
Chưa thấy bằng chứng rằng nền kinh tế đang hoạt động quá nóng.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ mạnh nhất so với Đô la New Zealand.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | 0.49% | 0.22% | 0.28% | -0.04% | 0.41% | 0.62% | 0.12% | |
| EUR | -0.49% | -0.27% | -0.20% | -0.53% | -0.07% | 0.13% | -0.37% | |
| GBP | -0.22% | 0.27% | 0.06% | -0.25% | 0.21% | 0.41% | -0.09% | |
| JPY | -0.28% | 0.20% | -0.06% | -0.32% | 0.12% | 0.31% | -0.17% | |
| CAD | 0.04% | 0.53% | 0.25% | 0.32% | 0.45% | 0.65% | 0.16% | |
| AUD | -0.41% | 0.07% | -0.21% | -0.12% | -0.45% | 0.20% | -0.33% | |
| NZD | -0.62% | -0.13% | -0.41% | -0.31% | -0.65% | -0.20% | -0.50% | |
| CHF | -0.12% | 0.37% | 0.09% | 0.17% | -0.16% | 0.33% | 0.50% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).