Dưới đây là những thông tin bạn cần biết vào thứ Tư, ngày 6 tháng 5:
Biến động trên các thị trường tài chính tăng cao giữa tuần khi các nhà đầu tư phản ứng với những tin tức mới nhất liên quan đến xung đột ở Trung Đông và theo dõi sát sao hành động của đồng Yên Nhật sau một lần nghi ngờ can thiệp ngoại hối khác. Vào cuối ngày, lịch kinh tế Mỹ sẽ công bố dữ liệu việc làm khu vực tư nhân trong tháng 4.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ là yếu nhất so với Đồng Yên Nhật.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.35% | -0.41% | -1.06% | -0.18% | -0.75% | -1.05% | -0.34% | |
| EUR | 0.35% | -0.06% | -0.70% | 0.18% | -0.39% | -0.73% | 0.03% | |
| GBP | 0.41% | 0.06% | -0.64% | 0.25% | -0.33% | -0.64% | 0.11% | |
| JPY | 1.06% | 0.70% | 0.64% | 0.88% | 0.30% | -0.02% | 0.77% | |
| CAD | 0.18% | -0.18% | -0.25% | -0.88% | -0.57% | -0.89% | -0.13% | |
| AUD | 0.75% | 0.39% | 0.33% | -0.30% | 0.57% | -0.31% | 0.44% | |
| NZD | 1.05% | 0.73% | 0.64% | 0.02% | 0.89% | 0.31% | 0.76% | |
| CHF | 0.34% | -0.03% | -0.11% | -0.77% | 0.13% | -0.44% | -0.76% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tạm dừng "Dự án Tự do", viện dẫn "tiến triển lớn" hướng tới một thỏa thuận hòa bình lâu dài với Iran. Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian cho biết Mỹ đang theo đuổi "chính sách gây áp lực tối đa" và lưu ý rằng Iran "không thể" chấp nhận các yêu cầu đơn phương của Mỹ. Tuy nhiên, giá dầu thô điều chỉnh giảm do diễn biến này và thùng West Texas Intermediate (WTI) được ghi nhận giao dịch gần 96$, giảm khoảng 4% trong ngày. Trong khi đó, chỉ số Đô la Mỹ (USD) chịu áp lực giảm và giảm khoảng 0,5% trong ngày, gần mức 98,00. Phản ánh sự chuyển biến tích cực trong tâm lý thị trường, hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán Mỹ tăng từ 0,3% đến 0,8% trong phiên châu Âu.
Trong phiên giao dịch châu Á muộn, USD/JPY giảm mạnh và lao dốc xuống 155,00 từ khoảng 158,00 chỉ trong chưa đầy một giờ, cho thấy khả năng can thiệp thị trường một lần nữa. Tại thời điểm viết bài, USD/JPY giao dịch ở mức 156,20, giảm 1,1% trong ngày.
Sau khi gặp khó khăn trong việc tạo ra động thái quyết định theo cả hai hướng vào thứ Ba, EUR/USD tăng lực kéo vào đầu ngày thứ Tư và giao dịch gần 1,1730, tăng khoảng 0,4% trong ngày.
GBP/USD thu thập đà tăng và tiến lên khu vực 1,3600 sau khi ghi nhận mức tăng nhẹ vào thứ Ba.
AUD/USD tiếp tục đà tăng trong tuần và tăng hơn 0,7% trong ngày, giao dịch ở mức cao nhất kể từ tháng 6 năm 2022 trên 0,7230.
Vàng (XAU/USD) hưởng lợi từ sự yếu đi của USD và leo lên gần 4.700$ vào thứ Tư, tăng hơn 2,5% trong ngày.
Điều kiện thị trường lao động là yếu tố chính để đánh giá sức khỏe của nền kinh tế và do đó là động lực chính cho việc định giá tiền tệ. Việc làm cao hoặc thất nghiệp thấp có tác động tích cực đến chi tiêu của người tiêu dùng và do đó là tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy giá trị của đồng tiền địa phương. Hơn nữa, thị trường lao động rất chặt chẽ - tình trạng thiếu hụt lao động để lấp đầy các vị trí tuyển dụng - cũng có thể có tác động đến mức lạm phát và do đó là chính sách tiền tệ vì nguồn cung lao động thấp và nhu cầu cao dẫn đến mức lương cao hơn.
Tốc độ tăng lương trong một nền kinh tế là yếu tố then chốt đối với các nhà hoạch định chính sách. Tăng trưởng lương cao có nghĩa là các hộ gia đình có nhiều tiền hơn để chi tiêu, thường dẫn đến tăng giá hàng tiêu dùng. Ngược lại với các nguồn lạm phát biến động hơn như giá năng lượng, tăng trưởng lương được coi là thành phần chính của lạm phát cơ bản và dai dẳng vì việc tăng lương không có khả năng bị đảo ngược. Các ngân hàng trung ương trên toàn thế giới chú ý chặt chẽ đến dữ liệu tăng trưởng lương khi quyết định chính sách tiền tệ.
Trọng số mà mỗi ngân hàng trung ương phân bổ cho các điều kiện thị trường lao động phụ thuộc vào mục tiêu của họ. Một số ngân hàng trung ương có nhiệm vụ rõ ràng liên quan đến thị trường lao động ngoài việc kiểm soát mức lạm phát. Ví dụ, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed) có nhiệm vụ kép là thúc đẩy việc làm tối đa và ổn định giá cả. Trong khi đó, nhiệm vụ duy nhất của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) là kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, và bất chấp bất kỳ nhiệm vụ nào họ có, các điều kiện thị trường lao động là một yếu tố quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách vì tầm quan trọng của dữ liệu như một thước đo sức khỏe của nền kinh tế và mối quan hệ trực tiếp của chúng với lạm phát.