AUD/JPY duy trì ổn định sau khi ghi nhận mức lỗ trong ngày giao dịch trước đó, dao động quanh mức 109,70 trong giờ châu Á vào thứ Ba. Cặp tiền tệ này có thể suy yếu khi đồng Đô la Úc (AUD) giữ mức lỗ sau khi dữ liệu Chỉ số người quản lý mua hàng (PMI) của NBS Trung Quốc được công bố. Những thay đổi trong nền kinh tế Trung Quốc có thể ảnh hưởng đến AUD, do mối quan hệ thương mại chặt chẽ giữa hai quốc gia.
PMI ngành sản xuất của NBS Trung Quốc tăng lên 50,4 trong tháng 3 từ mức 49,0 trong tháng 2, vượt qua kỳ vọng 50,1 và trở lại vùng mở rộng, đánh dấu mức đọc mạnh nhất kể từ tháng 3 năm ngoái sau hai tháng thu hẹp. Trong khi đó, PMI phi sản xuất tăng lên 50,1 từ 49,5, cao hơn dự báo 49,9, báo hiệu sự ổn định trong lĩnh vực dịch vụ sau hai tháng thu hẹp.
Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) đã công bố Biên bản cuộc họp tháng 3 vào thứ Ba, cho thấy các thành viên hội đồng đồng ý rằng có khả năng cần thắt chặt thêm, nhưng khác biệt về thời điểm thực hiện. Giá dầu gần 100$ mỗi thùng được cho là có thể đẩy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) quý hai lên khoảng 5%, với đa số lo ngại rằng kỳ vọng lạm phát có thể bị mất kiểm soát nếu không có hành động kịp thời.
Cặp AUD/JPY có thể gặp khó khăn khi đồng Yên Nhật (JPY) được hỗ trợ bởi các cảnh báo bằng lời nói lặp đi lặp lại từ các nhà chức trách Tokyo và kỳ vọng ngày càng tăng về khả năng can thiệp. Vào thứ Hai, quan chức tiền tệ hàng đầu Atsushi Mimura cho biết chính phủ sẽ hành động quyết đoán nếu cần thiết, phản ánh những bình luận trước đó của Bộ trưởng Tài chính Satsuki Katayama.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Tokyo tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước (YoY) trong tháng 3, giảm nhẹ so với mức 1,5% được điều chỉnh (điều chỉnh từ 1,6%) trong tháng 2. CPI cơ bản tăng 1,7% YoY, giảm nhẹ so với 1,8% và thấp hơn kỳ vọng 1,8%.
Cả hai chỉ số đều thấp hơn mục tiêu 2% của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ). Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng sự chậm lại này chỉ là tạm thời, viện dẫn giá dầu tăng do căng thẳng ở Trung Đông và chi phí nhập khẩu cao hơn từ đồng JPY yếu, điều này có khả năng đẩy lạm phát tăng cao hơn trong những tháng tới.
Ngân hàng trung ương có nhiệm vụ chính là đảm bảo giá cả ổn định ở một quốc gia hoặc khu vực. Các nền kinh tế liên tục phải đối mặt với lạm phát hoặc giảm phát khi giá của một số hàng hóa và dịch vụ nhất định biến động. Giá cả tăng liên tục đối với cùng một loại hàng hóa có nghĩa là lạm phát, giá cả giảm liên tục đối với cùng một loại hàng hóa có nghĩa là giảm phát. Nhiệm vụ của ngân hàng trung ương là giữ cho nhu cầu phù hợp bằng cách điều chỉnh lãi suất chính sách của mình. Đối với các ngân hàng trung ương lớn nhất như Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) hoặc Ngân hàng trung ương Anh (BoE), nhiệm vụ là giữ lạm phát ở mức gần 2%.
Ngân hàng trung ương có một công cụ quan trọng để tăng hoặc giảm lạm phát, đó là điều chỉnh lãi suất chính sách chuẩn, thường được gọi là lãi suất. Vào những thời điểm được thông báo trước, ngân hàng trung ương sẽ ban hành một tuyên bố về lãi suất chính sách của mình và đưa ra lý do bổ sung về lý do tại sao họ vẫn giữ nguyên hoặc thay đổi (cắt giảm hoặc tăng lãi suất). Các ngân hàng địa phương sẽ điều chỉnh lãi suất tiết kiệm và cho vay của mình cho phù hợp, điều này sẽ khiến mọi người khó hoặc dễ kiếm tiền từ tiền tiết kiệm của mình hoặc các công ty khó vay vốn và đầu tư vào doanh nghiệp của mình. Khi ngân hàng trung ương tăng đáng kể lãi suất, điều này được gọi là thắt chặt tiền tệ. Khi ngân hàng trung ương cắt giảm lãi suất chuẩn, điều này được gọi là nới lỏng tiền tệ.
Một ngân hàng trung ương thường độc lập về mặt chính trị. Các thành viên của hội đồng chính sách ngân hàng trung ương phải trải qua một loạt các hội đồng và phiên điều trần trước khi được bổ nhiệm vào một ghế trong hội đồng chính sách. Mỗi thành viên trong hội đồng đó thường có một niềm tin nhất định về cách ngân hàng trung ương nên kiểm soát lạm phát và chính sách tiền tệ tiếp theo. Các thành viên muốn có một chính sách tiền tệ rất lỏng lẻo, với lãi suất thấp và cho vay giá rẻ, để thúc đẩy nền kinh tế đáng kể trong khi vẫn hài lòng khi thấy lạm phát chỉ cao hơn 2% một chút, được gọi là 'bồ câu'. Các thành viên muốn thấy lãi suất cao hơn để thưởng cho tiền tiết kiệm và muốn duy trì lạm phát mọi lúc được gọi là 'diều hâu' và sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi lạm phát ở mức hoặc thấp hơn một chút là 2%.
Thông thường, có một chủ tịch hoặc tổng thống điều hành mỗi cuộc họp, cần tạo ra sự đồng thuận giữa phe diều hâu hoặc phe bồ câu và có tiếng nói cuối cùng khi nào thì đưa ra quyết định bỏ phiếu để tránh tỷ lệ hòa 50-50 về việc có nên điều chỉnh chính sách hiện tại hay không. Chủ tịch sẽ có bài phát biểu thường có thể được theo dõi trực tiếp, trong đó lập trường và triển vọng tiền tệ hiện tại được truyền đạt. Một ngân hàng trung ương sẽ cố gắng thúc đẩy chính sách tiền tệ của mình mà không gây ra biến động mạnh về lãi suất, cổ phiếu hoặc tiền tệ của mình. Tất cả các thành viên của ngân hàng trung ương sẽ truyền đạt lập trường của mình tới thị trường trước sự kiện họp chính sách. Vài ngày trước khi cuộc họp chính sách diễn ra cho đến khi chính sách mới được truyền đạt, các thành viên bị cấm nói chuyện công khai. Đây được gọi là thời gian cấm phát biểu.