Cặp AUD/USD giao dịch cao hơn 0,25% lên gần 0,6700 trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Hai. Cặp tiền tệ Úc thể hiện sức mạnh khi đồng đô la Mỹ (USD) hoạt động kém trong một kỳ nghỉ dài ở Hoa Kỳ (Mỹ) do các tranh chấp leo thang giữa Hoa Kỳ (Mỹ) và Liên minh châu Âu (EU).
Tính đến thời điểm viết bài, Chỉ số đô la Mỹ (DXY), theo dõi giá trị của đồng đô la so với sáu đồng tiền chính, giảm 0,2% xuống gần 99,20.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ là yếu nhất so với Đồng Franc Thụy Sĩ.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.23% | -0.19% | -0.02% | -0.18% | -0.26% | -0.50% | -0.54% | |
| EUR | 0.23% | 0.04% | 0.24% | 0.05% | -0.03% | -0.28% | -0.30% | |
| GBP | 0.19% | -0.04% | 0.19% | 0.00% | -0.08% | -0.32% | -0.35% | |
| JPY | 0.02% | -0.24% | -0.19% | -0.18% | -0.26% | -0.50% | -0.54% | |
| CAD | 0.18% | -0.05% | -0.01% | 0.18% | -0.07% | -0.32% | -0.36% | |
| AUD | 0.26% | 0.03% | 0.08% | 0.26% | 0.07% | -0.25% | -0.28% | |
| NZD | 0.50% | 0.28% | 0.32% | 0.50% | 0.32% | 0.25% | -0.04% | |
| CHF | 0.54% | 0.30% | 0.35% | 0.54% | 0.36% | 0.28% | 0.04% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Quan hệ Mỹ-EU đang đối mặt với sự bất ổn khi Tổng thống Donald Trump công bố thuế quan 10% đối với một số thành viên EU và Vương quốc Anh (Anh) vào thứ Bảy, và cảnh báo rằng chúng có thể được nâng lên 25% nếu lục địa già không đồng ý để Washington mua Greenland. Mỹ đã thể hiện mong muốn mua Greenland, viện dẫn các rủi ro đối với an ninh quốc gia và hòa bình thế giới.
Đáp lại, Thủ tướng Greenland (PM) Jens-Frederik Nielsen đã tuyên bố trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Hai rằng các tuyên bố mới nhất từ Mỹ, bao gồm các mối đe dọa thuế quan, không thay đổi thực tế rằng chúng tôi sẽ không để mình bị áp lực, theo Reuters.
Bộ Đức cũng đã tuyên bố rằng các mối đe dọa thuế quan là "không thể chấp nhận", và chúng tôi quyết tâm đáp trả các thuế quan mới bằng các biện pháp đối phó.
Trong khi đó, đồng đô la Úc (AUD) giao dịch tương đối ổn định trong khi các nhà đầu tư chờ đợi dữ liệu việc làm của Úc cho tháng 12, sẽ được công bố vào thứ Năm. Dữ liệu dự kiến sẽ cho thấy nền kinh tế đã thêm 30.000 công nhân mới sau khi sa thải 21.300 nhân viên trong tháng 11. Trong khi đó, Tỷ lệ thất nghiệp được dự đoán sẽ tăng lên 4,4% từ mức 4,3% trong tháng 11.
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.