Đồng đô la Mỹ (USD) hoạt động kém hơn so với các đồng tiền chính khác vào đầu tuần trong bối cảnh tranh chấp giữa các nền kinh tế từ hai bên Đại Tây Dương về kế hoạch của Washington để mua lại Greenland. Tại thời điểm viết bài, chỉ số đô la Mỹ (DXY), theo dõi giá trị của đồng Greenback so với sáu loại tiền tệ chính, giảm 0,25% xuống gần 99,15.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ là yếu nhất so với Đồng Franc Thụy Sĩ.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.25% | -0.13% | -0.14% | -0.16% | -0.15% | -0.36% | -0.54% | |
| EUR | 0.25% | 0.12% | 0.11% | 0.09% | 0.10% | -0.11% | -0.29% | |
| GBP | 0.13% | -0.12% | 0.00% | -0.03% | -0.03% | -0.23% | -0.41% | |
| JPY | 0.14% | -0.11% | 0.00% | -0.04% | -0.03% | -0.23% | -0.41% | |
| CAD | 0.16% | -0.09% | 0.03% | 0.04% | 0.01% | -0.19% | -0.38% | |
| AUD | 0.15% | -0.10% | 0.03% | 0.03% | -0.01% | -0.21% | -0.39% | |
| NZD | 0.36% | 0.11% | 0.23% | 0.23% | 0.19% | 0.21% | -0.18% | |
| CHF | 0.54% | 0.29% | 0.41% | 0.41% | 0.38% | 0.39% | 0.18% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Vào thứ Bảy, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã đe dọa áp thuế 10% đối với hàng nhập khẩu từ một số thành viên Liên minh Châu Âu (EU), thông qua một bài đăng trên Truth.Social, vì đã phản đối kế hoạch của ông về "mua lại hoàn toàn và toàn bộ Greenland", sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 2.
Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen đã cảnh báo qua một bài đăng trên X rằng kế hoạch của Tổng thống Mỹ Trump để mua lại Greenland có thể ảnh hưởng đến "sự toàn vẹn và chủ quyền của lãnh thổ" có thể làm suy yếu "mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương", dẫn đến nguy cơ "vòng xoáy giảm giá nguy hiểm".
Sự kiện này có thể không thuận lợi cho quan hệ Mỹ-EU trong dài hạn, làm tăng khả năng rằng lục địa già có thể khám phá các phương thức trao đổi thay thế cho thương mại, điều này có thể làm suy yếu thêm sự chấp nhận chung của đồng đô la Mỹ.
Trong khi đó, những bình luận ôn hòa từ Phó Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (Fed) phụ trách giám sát Michelle Bowman về triển vọng lãi suất của Mỹ cũng đang là một yếu tố kéo giảm lớn đối với đồng đô la Mỹ. Bowman đã lập luận trong một bài phát biểu vào thứ Sáu rằng Fed nên chuẩn bị để đưa lãi suất về mức trung lập khi điều kiện thị trường lao động vẫn còn mong manh.
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.