Cặp USD/JPY giao dịch thấp hơn 0,18% xuống gần 158,35 trong phiên giao dịch châu Âu sớm vào thứ Sáu. Cặp này đã chịu áp lực khi đồng Yên Nhật (JPY) mạnh lên do những cảnh báo bằng lời nói về sự can thiệp của Nhật Bản để đối phó với những động thái quá mức một chiều.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đồng Yên Nhật (JPY) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đồng Yên Nhật mạnh nhất so với Đô la Mỹ.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.03% | -0.05% | -0.16% | -0.05% | -0.08% | -0.33% | -0.13% | |
| EUR | 0.03% | -0.02% | -0.13% | -0.02% | -0.04% | -0.29% | -0.09% | |
| GBP | 0.05% | 0.02% | -0.11% | 0.00% | -0.02% | -0.27% | -0.07% | |
| JPY | 0.16% | 0.13% | 0.11% | 0.13% | 0.08% | -0.17% | 0.03% | |
| CAD | 0.05% | 0.02% | -0.01% | -0.13% | -0.05% | -0.30% | -0.09% | |
| AUD | 0.08% | 0.04% | 0.02% | -0.08% | 0.05% | -0.25% | -0.04% | |
| NZD | 0.33% | 0.29% | 0.27% | 0.17% | 0.30% | 0.25% | 0.20% | |
| CHF | 0.13% | 0.09% | 0.07% | -0.03% | 0.09% | 0.04% | -0.20% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đồng Yên Nhật từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đô la Mỹ, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho JPY (đồng tiền cơ sở)/USD (đồng tiền định giá).
Trước đó trong ngày, Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản (FM) Satsuki Katayama cho biết tất cả các lựa chọn, bao gồm cả can thiệp trực tiếp vào tiền tệ, đều có sẵn để xử lý sự yếu kém gần đây của JPY.
Đầu tuần này, Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ (US) Scott Bessent cũng cho biết Nhật Bản cần có sự hình thành và truyền thông chính sách tiền tệ hợp lý, sau cuộc gặp với Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản Satsuki Katayama.
Tuy nhiên, triển vọng rộng hơn của JPY vẫn không chắc chắn khi các nhà đầu tư kỳ vọng Nhật Bản sẽ theo đuổi chính sách tài khóa lỏng lẻo hơn trong năm nay để kích thích tăng trưởng kinh tế.
Trong khi đó, đồng đô la Mỹ (USD) giảm nhẹ trước một kỳ nghỉ dài ở Mỹ, nhưng vẫn giữ vững do Cục Dự trữ Liên bang (Fed) dự kiến sẽ giữ lãi suất ổn định trong cuộc họp chính sách vào cuối tháng này.

USD/JPY điều chỉnh vào thứ Sáu xuống gần 158,00, kiểm tra khu vực bứt phá của sự hợp nhất hình thành trong khoảng từ 154,40 đến 157,90 trong hai tháng qua.
Giá giữ trên Đường trung bình động hàm mũ (EMA) 20 ngày đang tăng ở mức 157,33, giữ cho xu hướng tăng ngắn hạn vẫn còn nguyên. Đường EMA 20 ngày dốc lên ổn định nhấn mạnh áp lực mua bền vững.
Chỉ báo sức mạnh tương đối (RSI) 14 ngày ở mức 62 (tăng) sau khi giảm từ mức quá mua hỗ trợ sự tiếp tục của xu hướng khi động lực trở lại bình thường.
Khi ở trên đường EMA 20 ngày, cặp này sẽ vẫn có xu hướng tăng, với các đợt thoái lui được kỳ vọng sẽ được hỗ trợ tại đường trung bình động đó. RSI gần 62 để lại khoảng trống cho sự tăng trưởng tiếp theo trước khi các điều kiện quá mua tái xuất hiện. Một mức đóng cửa hàng ngày dưới 157,33 sẽ chuyển hướng thiên lệch về một sự điều chỉnh sâu hơn, trong khi giữ trên mức này sẽ bảo tồn đà tăng.
(Phân tích kỹ thuật của câu chuyện này được viết với sự trợ giúp của một công cụ AI.)
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.