Dưới đây là những gì bạn cần biết vào thứ Năm, ngày 5 tháng 2:
Các nhà đầu tư đứng ngoài và thị trường trở nên yên tĩnh vào đầu ngày thứ Năm trước các sự kiện quan trọng. Ngân hàng trung ương Anh (BoE) và Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) sẽ công bố các quyết định chính sách tiền tệ vào cuối phiên. Lịch kinh tế của Mỹ sẽ công bố dữ liệu về Số đơn yêu cầu trợ cấp thất nghiệp lần đầu hàng tuần, cùng với báo cáo Cơ hội việc làm JOLTS cho tháng 12.
Đồng đô la Mỹ (USD) đã tăng cường sức mạnh so với các đối thủ trong nửa cuối ngày thứ Tư mặc dù có các dữ liệu vĩ mô hỗn hợp. Cơ quan xử lý dữ liệu tự động (ADP) báo cáo rằng việc làm trong khu vực tư nhân đã tăng 22 nghìn trong tháng 1, thấp hơn so với kỳ vọng của thị trường là 48 nghìn. Về mặt tích cực, Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) Dịch vụ của Viện Quản lý Cung ứng (ISM) giữ ổn định ở mức 53,8, phản ánh sự mở rộng liên tục trong hoạt động kinh doanh của lĩnh vực dịch vụ với tốc độ mạnh mẽ. Sau khi đóng cửa trong vùng tích cực vào thứ Tư, Chỉ số USD giữ ổn định ở mức khoảng 97,70 trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Năm.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê tuần này. Đô la Mỹ mạnh nhất so với Đồng Yên Nhật.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | 0.39% | 0.51% | 1.35% | 0.54% | -0.46% | 0.26% | 0.67% | |
| EUR | -0.39% | 0.08% | 0.98% | 0.14% | -0.86% | -0.11% | 0.27% | |
| GBP | -0.51% | -0.08% | 0.79% | 0.06% | -0.93% | -0.20% | 0.19% | |
| JPY | -1.35% | -0.98% | -0.79% | -0.81% | -1.81% | -1.02% | -0.94% | |
| CAD | -0.54% | -0.14% | -0.06% | 0.81% | -0.95% | -0.23% | 0.13% | |
| AUD | 0.46% | 0.86% | 0.93% | 1.81% | 0.95% | 0.75% | 1.13% | |
| NZD | -0.26% | 0.11% | 0.20% | 1.02% | 0.23% | -0.75% | 0.38% | |
| CHF | -0.67% | -0.27% | -0.19% | 0.94% | -0.13% | -1.13% | -0.38% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Cục Thống kê Lao động Mỹ thông báo vào cuối ngày thứ Tư rằng dữ liệu Bảng lương phi nông nghiệp bị hoãn sẽ được công bố vào thứ Tư tới, ngày 11 tháng 2, và ngày công bố Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) sẽ được chuyển sang ngày 13 tháng 2 từ ngày 11 tháng 2 như đã dự kiến ban đầu.
ECB được kỳ vọng sẽ giữ nguyên lãi suất chủ chốt sau cuộc họp tháng 2. Tuy nhiên, các nhà đầu tư sẽ chú ý đến cách ECB đánh giá rủi ro giảm đối với lạm phát, trong bối cảnh đồng euro gần đây mạnh lên và dữ liệu Chỉ số giá tiêu dùng đã cân đối (HICP). Eurostat báo cáo vào thứ Tư rằng HICP đã tăng 1,7% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 1, so với mức tăng 1,9% được ghi nhận trong tháng 12. Sau khi ghi nhận mức lỗ nhẹ vào thứ Tư, EUR/USD giao dịch đi ngang ở mức khoảng 1,1800 vào buổi sáng thứ Năm tại châu Âu.
BoE được dự đoán sẽ giữ lãi suất ngân hàng ở mức 3,75%. Sự phân chia phiếu bầu và những bình luận của Thống đốc BoE Andrew Bailey trong cuộc họp báo sau cuộc họp có thể ảnh hưởng đến giá trị của đồng bảng Anh. Tại thời điểm viết bài, GBP/USD giảm 0,2% trong ngày ở mức 1,3625.
Sau đợt tăng vào thứ Ba, AUD/USD đã điều chỉnh giảm vào thứ Tư. Cặp tiền này đang cố gắng lấy lại lực kéo và giao dịch dưới mức 0,7000 vào buổi sáng thứ Năm tại châu Âu.
Vàng đã mở rộng đà phục hồi trong nửa đầu ngày thứ Tư nhưng gặp phải kháng cự trên mức 5.000$. XAU/USD giảm nhẹ vào đầu ngày thứ Năm và giao dịch dưới mức 4.950$. Sau khi ghi nhận mức tăng trong hai ngày liên tiếp, giá bạc giảm vào thứ Năm và giao dịch dưới mức 81$, mất hơn 8% trong ngày.
USD/JPY tiếp tục tăng cao và giao dịch gần mức 157,00 sau khi tăng gần 0,7% vào thứ Tư.
Ngân hàng trung ương có nhiệm vụ chính là đảm bảo giá cả ổn định ở một quốc gia hoặc khu vực. Các nền kinh tế liên tục phải đối mặt với lạm phát hoặc giảm phát khi giá của một số hàng hóa và dịch vụ nhất định biến động. Giá cả tăng liên tục đối với cùng một loại hàng hóa có nghĩa là lạm phát, giá cả giảm liên tục đối với cùng một loại hàng hóa có nghĩa là giảm phát. Nhiệm vụ của ngân hàng trung ương là giữ cho nhu cầu phù hợp bằng cách điều chỉnh lãi suất chính sách của mình. Đối với các ngân hàng trung ương lớn nhất như Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) hoặc Ngân hàng trung ương Anh (BoE), nhiệm vụ là giữ lạm phát ở mức gần 2%.
Ngân hàng trung ương có một công cụ quan trọng để tăng hoặc giảm lạm phát, đó là điều chỉnh lãi suất chính sách chuẩn, thường được gọi là lãi suất. Vào những thời điểm được thông báo trước, ngân hàng trung ương sẽ ban hành một tuyên bố về lãi suất chính sách của mình và đưa ra lý do bổ sung về lý do tại sao họ vẫn giữ nguyên hoặc thay đổi (cắt giảm hoặc tăng lãi suất). Các ngân hàng địa phương sẽ điều chỉnh lãi suất tiết kiệm và cho vay của mình cho phù hợp, điều này sẽ khiến mọi người khó hoặc dễ kiếm tiền từ tiền tiết kiệm của mình hoặc các công ty khó vay vốn và đầu tư vào doanh nghiệp của mình. Khi ngân hàng trung ương tăng đáng kể lãi suất, điều này được gọi là thắt chặt tiền tệ. Khi ngân hàng trung ương cắt giảm lãi suất chuẩn, điều này được gọi là nới lỏng tiền tệ.
Một ngân hàng trung ương thường độc lập về mặt chính trị. Các thành viên của hội đồng chính sách ngân hàng trung ương phải trải qua một loạt các hội đồng và phiên điều trần trước khi được bổ nhiệm vào một ghế trong hội đồng chính sách. Mỗi thành viên trong hội đồng đó thường có một niềm tin nhất định về cách ngân hàng trung ương nên kiểm soát lạm phát và chính sách tiền tệ tiếp theo. Các thành viên muốn có một chính sách tiền tệ rất lỏng lẻo, với lãi suất thấp và cho vay giá rẻ, để thúc đẩy nền kinh tế đáng kể trong khi vẫn hài lòng khi thấy lạm phát chỉ cao hơn 2% một chút, được gọi là 'bồ câu'. Các thành viên muốn thấy lãi suất cao hơn để thưởng cho tiền tiết kiệm và muốn duy trì lạm phát mọi lúc được gọi là 'diều hâu' và sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi lạm phát ở mức hoặc thấp hơn một chút là 2%.
Thông thường, có một chủ tịch hoặc tổng thống điều hành mỗi cuộc họp, cần tạo ra sự đồng thuận giữa phe diều hâu hoặc phe bồ câu và có tiếng nói cuối cùng khi nào thì đưa ra quyết định bỏ phiếu để tránh tỷ lệ hòa 50-50 về việc có nên điều chỉnh chính sách hiện tại hay không. Chủ tịch sẽ có bài phát biểu thường có thể được theo dõi trực tiếp, trong đó lập trường và triển vọng tiền tệ hiện tại được truyền đạt. Một ngân hàng trung ương sẽ cố gắng thúc đẩy chính sách tiền tệ của mình mà không gây ra biến động mạnh về lãi suất, cổ phiếu hoặc tiền tệ của mình. Tất cả các thành viên của ngân hàng trung ương sẽ truyền đạt lập trường của mình tới thị trường trước sự kiện họp chính sách. Vài ngày trước khi cuộc họp chính sách diễn ra cho đến khi chính sách mới được truyền đạt, các thành viên bị cấm nói chuyện công khai. Đây được gọi là thời gian cấm phát biểu.