Đồng đô la Mỹ (USD) tiếp tục chuỗi ngày giảm giá trong phiên giao dịch thứ ba vào thứ Sáu giữa những dấu hiệu giảm leo thang trong cuộc xung đột đang diễn ra giữa Hoa Kỳ (Mỹ) và Iran.
Trong phiên châu Á, Chỉ số đô la Mỹ (DXY), theo dõi giá trị đồng đô la so với sáu đồng tiền chính, giao dịch giảm 0,3% xuống gần 100,60, trở lại mức thấp nhất trong ba tuần.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ là yếu nhất so với Đồng Yên Nhật.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.22% | -0.27% | -0.57% | -0.19% | -0.31% | -0.55% | -0.40% | |
| EUR | 0.22% | -0.05% | -0.35% | 0.05% | -0.12% | -0.34% | -0.18% | |
| GBP | 0.27% | 0.05% | -0.33% | 0.08% | -0.08% | -0.28% | -0.14% | |
| JPY | 0.57% | 0.35% | 0.33% | 0.40% | 0.27% | 0.01% | 0.17% | |
| CAD | 0.19% | -0.05% | -0.08% | -0.40% | -0.14% | -0.37% | -0.21% | |
| AUD | 0.31% | 0.12% | 0.08% | -0.27% | 0.14% | -0.24% | -0.11% | |
| NZD | 0.55% | 0.34% | 0.28% | -0.01% | 0.37% | 0.24% | 0.14% | |
| CHF | 0.40% | 0.18% | 0.14% | -0.17% | 0.21% | 0.11% | -0.14% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Trước đó trong ngày, các báo cáo từ Times of Israel cho biết một quan chức Mỹ đã phát tín hiệu rằng Washington vẫn cam kết với biên bản ghi nhớ (MoU) với Iran và các cuộc đàm phán kỹ thuật vẫn đang diễn ra mặc dù Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố rằng MoU đã kết thúc và có sự trao đổi các cuộc tấn công giữa hai bên.
Vào thứ Tư, Tổng thống Mỹ Trump cũng nói rằng Iran đã đề nghị đàm phán, nhưng "Tôi chỉ không biết liệu họ có xứng đáng để đàm phán hay không", CNBC đưa tin.
Dấu hiệu giảm leo thang chiến tranh Mỹ-Iran làm giảm sức hấp dẫn trú ẩn an toàn của đồng đô la Mỹ. Tuy nhiên, giá dầu tăng do lo ngại gián đoạn nguồn cung năng lượng tái diễn đã làm mất ổn định các dự báo lạm phát, điều này có khả năng hạn chế đà giảm của đồng đô la Mỹ.
Về mặt kỹ thuật, kỳ vọng lạm phát cao hơn khiến các quan chức Cục Dự trữ Liên bang (Fed) không muốn hạ lãi suất.
Trên mặt trận chính sách tiền tệ, Chủ tịch Fed Kevin Warsh đã công bố các thành viên của năm nhóm công tác, như đã hứa trong thông báo chính sách tháng Sáu, tập trung vào truyền thông, chính sách bảng cân đối kế toán, cải thiện chất lượng và kịp thời của dữ liệu kinh tế, năng suất và việc làm, cũng như phát triển các khung lạm phát.
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.