Đồng yên Nhật khởi đầu tuần với diễn biến tích cực so với đô la Mỹ (USD), nhưng lại giảm so với các đồng tiền cùng nhóm khác. Cặp USD/JPY giảm 0,17% xuống gần 163,57 khi đô la Mỹ suy yếu do khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư cải thiện trong bối cảnh hy vọng các nỗ lực ngoại giao giữa Hoa Kỳ (Mỹ) và Iran sẽ được nối lại để chấm dứt chiến tranh.
Tại thời điểm viết bài, Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường giá trị của đồng bạc xanh so với sáu loại tiền tệ chính, giao dịch thấp hơn 0,25% xuống gần 101,20. Hợp đồng tương lai S&P500 giao dịch cao hơn gần 1% lên gần 7.485, phản ánh tâm lý thị trường ưa rủi ro.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ là yếu nhất so với Đồng Franc Thụy Sĩ.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.32% | -0.21% | -0.15% | -0.07% | -0.32% | -0.24% | -0.37% | |
| EUR | 0.32% | 0.07% | 0.15% | 0.23% | -0.01% | 0.09% | -0.06% | |
| GBP | 0.21% | -0.07% | 0.09% | 0.17% | -0.07% | -0.02% | -0.13% | |
| JPY | 0.15% | -0.15% | -0.09% | 0.05% | -0.17% | -0.10% | -0.21% | |
| CAD | 0.07% | -0.23% | -0.17% | -0.05% | -0.23% | -0.16% | -0.31% | |
| AUD | 0.32% | 0.00% | 0.07% | 0.17% | 0.23% | 0.10% | -0.08% | |
| NZD | 0.24% | -0.09% | 0.02% | 0.10% | 0.16% | -0.10% | -0.15% | |
| CHF | 0.37% | 0.06% | 0.13% | 0.21% | 0.31% | 0.08% | 0.15% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Trong cuối tuần, Washington xác nhận đã tạm dừng các cuộc tấn công vào Iran, cho biết danh sách các mục tiêu của Iran đã cạn kiệt, đồng thời nói thêm rằng không có nhiều ý nghĩa trong việc tiếp tục chiến dịch ném bom nếu không quay trở lại các hoạt động chiến đấu quy mô lớn. Đáp lại, Iran cũng xác nhận tạm dừng các cuộc tấn công, nhưng vẫn giữ lập trường "tấn công đáp trả tấn công’’.
Trong tuần này, các yếu tố tác động chính đối với cặp tiền sẽ là các thông báo chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) vào thứ Tư và thứ Sáu, tương ứng.
Thị trường tài chính kỳ vọng cả hai ngân hàng trung ương sẽ giữ nguyên lãi suất. Fed khó có khả năng đưa ra bất kỳ định hướng nào liên quan đến triển vọng chính sách tiền tệ, khi Chủ tịch Kevin Warsh cho biết tại cuộc họp báo gần nhất rằng "cái gọi là định hướng tương lai không phù hợp với giai đoạn chính sách hiện tại".
Trong khi đó, BoJ được kỳ vọng sẽ nhắc lại rằng lộ trình chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục theo hướng thắt chặt. Theo cuộc thăm dò mới nhất của Reuters, 86% các nhà kinh tế kỳ vọng BoJ sẽ nâng lãi suất cơ bản lên 1,25% vào cuối quý 4 (Q4).
Ngân hàng trung ương có nhiệm vụ chính là đảm bảo giá cả ổn định ở một quốc gia hoặc khu vực. Các nền kinh tế liên tục phải đối mặt với lạm phát hoặc giảm phát khi giá của một số hàng hóa và dịch vụ nhất định biến động. Giá cả tăng liên tục đối với cùng một loại hàng hóa có nghĩa là lạm phát, giá cả giảm liên tục đối với cùng một loại hàng hóa có nghĩa là giảm phát. Nhiệm vụ của ngân hàng trung ương là giữ cho nhu cầu phù hợp bằng cách điều chỉnh lãi suất chính sách của mình. Đối với các ngân hàng trung ương lớn nhất như Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) hoặc Ngân hàng trung ương Anh (BoE), nhiệm vụ là giữ lạm phát ở mức gần 2%.
Ngân hàng trung ương có một công cụ quan trọng để tăng hoặc giảm lạm phát, đó là điều chỉnh lãi suất chính sách chuẩn, thường được gọi là lãi suất. Vào những thời điểm được thông báo trước, ngân hàng trung ương sẽ ban hành một tuyên bố về lãi suất chính sách của mình và đưa ra lý do bổ sung về lý do tại sao họ vẫn giữ nguyên hoặc thay đổi (cắt giảm hoặc tăng lãi suất). Các ngân hàng địa phương sẽ điều chỉnh lãi suất tiết kiệm và cho vay của mình cho phù hợp, điều này sẽ khiến mọi người khó hoặc dễ kiếm tiền từ tiền tiết kiệm của mình hoặc các công ty khó vay vốn và đầu tư vào doanh nghiệp của mình. Khi ngân hàng trung ương tăng đáng kể lãi suất, điều này được gọi là thắt chặt tiền tệ. Khi ngân hàng trung ương cắt giảm lãi suất chuẩn, điều này được gọi là nới lỏng tiền tệ.
Một ngân hàng trung ương thường độc lập về mặt chính trị. Các thành viên của hội đồng chính sách ngân hàng trung ương phải trải qua một loạt các hội đồng và phiên điều trần trước khi được bổ nhiệm vào một ghế trong hội đồng chính sách. Mỗi thành viên trong hội đồng đó thường có một niềm tin nhất định về cách ngân hàng trung ương nên kiểm soát lạm phát và chính sách tiền tệ tiếp theo. Các thành viên muốn có một chính sách tiền tệ rất lỏng lẻo, với lãi suất thấp và cho vay giá rẻ, để thúc đẩy nền kinh tế đáng kể trong khi vẫn hài lòng khi thấy lạm phát chỉ cao hơn 2% một chút, được gọi là 'bồ câu'. Các thành viên muốn thấy lãi suất cao hơn để thưởng cho tiền tiết kiệm và muốn duy trì lạm phát mọi lúc được gọi là 'diều hâu' và sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi lạm phát ở mức hoặc thấp hơn một chút là 2%.
Thông thường, có một chủ tịch hoặc tổng thống điều hành mỗi cuộc họp, cần tạo ra sự đồng thuận giữa phe diều hâu hoặc phe bồ câu và có tiếng nói cuối cùng khi nào thì đưa ra quyết định bỏ phiếu để tránh tỷ lệ hòa 50-50 về việc có nên điều chỉnh chính sách hiện tại hay không. Chủ tịch sẽ có bài phát biểu thường có thể được theo dõi trực tiếp, trong đó lập trường và triển vọng tiền tệ hiện tại được truyền đạt. Một ngân hàng trung ương sẽ cố gắng thúc đẩy chính sách tiền tệ của mình mà không gây ra biến động mạnh về lãi suất, cổ phiếu hoặc tiền tệ của mình. Tất cả các thành viên của ngân hàng trung ương sẽ truyền đạt lập trường của mình tới thị trường trước sự kiện họp chính sách. Vài ngày trước khi cuộc họp chính sách diễn ra cho đến khi chính sách mới được truyền đạt, các thành viên bị cấm nói chuyện công khai. Đây được gọi là thời gian cấm phát biểu.