Đồng đô la Úc (AUD) giảm so với các đồng tiền chính, giao dịch giảm 0,45% xuống gần 0,6890 so với đồng đô la Mỹ (USD) trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Tư. Đồng tiền của Úc chịu áp lực bán mạnh khi tâm lý thị trường chuyển sang ngại rủi ro do lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng vọt.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Úc (AUD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Úc là yếu nhất so với Đô la Mỹ.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | 0.18% | 0.19% | 0.08% | 0.16% | 0.46% | 0.13% | 0.12% | |
| EUR | -0.18% | 0.01% | -0.09% | -0.02% | 0.31% | -0.06% | -0.05% | |
| GBP | -0.19% | -0.01% | -0.11% | -0.03% | 0.26% | -0.08% | -0.05% | |
| JPY | -0.08% | 0.09% | 0.11% | 0.06% | 0.38% | 0.00% | 0.04% | |
| CAD | -0.16% | 0.02% | 0.03% | -0.06% | 0.31% | -0.07% | -0.02% | |
| AUD | -0.46% | -0.31% | -0.26% | -0.38% | -0.31% | -0.37% | -0.33% | |
| NZD | -0.13% | 0.06% | 0.08% | -0.01% | 0.07% | 0.37% | 0.04% | |
| CHF | -0.12% | 0.05% | 0.05% | -0.04% | 0.02% | 0.33% | -0.04% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Úc từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đô la Mỹ, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho AUD (đồng tiền cơ sở)/USD (đồng tiền định giá).
Tại thời điểm viết bài, lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm tăng 0,18% lên gần 4,47%, tiếp tục đà tăng ngay cả sau khi tăng 2% vào thứ Ba. Hợp đồng tương lai S&P 500 giảm 0,4% xuống gần 7.470, phản ánh tâm lý thị trường ngại rủi ro. Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường giá trị đồng bạc xanh so với sáu đồng tiền chính, tăng 0,15% lên gần 101,33.
Dấu hiệu cải thiện nhu cầu lao động của Mỹ đã thúc đẩy lợi suất trái phiếu Mỹ tăng. Dữ liệu Lượng việc làm mở JOLTS của Mỹ trong tháng 5 cho thấy vào thứ Ba rằng các nhà tuyển dụng đã đăng ký 7,594 triệu vị trí việc làm mới, cao hơn 7,3 triệu ước tính và mức đọc trước đó là 7,585 triệu.
Trên mặt trận trong nước, hy vọng giảm về việc Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) tăng lãi suất thêm cũng đang gây áp lực lên đồng đô la Úc. Theo một báo cáo của Reuters, hiện có 15% khả năng tăng lãi suất tiền mặt 4,35% tại cuộc họp tiếp theo của RBA vào tháng 8, và 50% khả năng RBA đã kết thúc chu kỳ tăng lãi suất này.
Triển vọng diều hâu của RBA đã hạ nhiệt khi giá dầu trở lại gần mức trước chiến tranh Trung Đông, từ đó neo giữ kỳ vọng lạm phát toàn cầu.
Trước đó trong ngày, Chỉ số Quản lý Mua hàng (PMI) ngành sản xuất của Trung Quốc do RatingDog công bố đạt 51,7 trong tháng 6, đúng như dự kiến, giảm nhẹ so với 51,8 trong tháng 5. Vì nền kinh tế Úc phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sang Trung Quốc, dữ liệu nhà máy của Bắc Kinh ảnh hưởng đáng kể đến đồng đô la Úc.
Trong thế giới thuật ngữ tài chính, hai thuật ngữ được sử dụng rộng rãi là “ưa rủi ro” và “ngại rủi ro” dùng để chỉ mức độ rủi ro mà các nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận trong giai đoạn được tham chiếu. Trong thị trường “ưa rủi ro”, các nhà đầu tư lạc quan về tương lai và sẵn sàng mua các tài sản rủi ro hơn. Trong thị trường “ngại rủi ro”, các nhà đầu tư bắt đầu “giao dịch an toàn” vì họ lo lắng về tương lai, và do đó mua các tài sản ít rủi ro hơn nhưng chắc chắn mang lại lợi nhuận hơn, ngay cả khi lợi nhuận tương đối khiêm tốn.
Thông thường, trong giai đoạn “ưa rủi ro”, thị trường chứng khoán sẽ tăng, hầu hết các mặt hàng – ngoại trừ Vàng – cũng sẽ tăng giá trị, vì chúng được hưởng lợi từ triển vọng tăng trưởng tích cực. Tiền tệ của các quốc gia là nước xuất khẩu hàng hóa lớn sẽ tăng giá do nhu cầu tăng và Tiền điện tử tăng. Trong thị trường “ngại rủi ro”, Trái phiếu tăng giá – đặc biệt là Trái phiếu chính phủ lớn – Vàng tỏa sáng và các loại tiền tệ trú ẩn an toàn như Yên Nhật, Franc Thụy Sĩ và Đô la Mỹ đều được hưởng lợi.
Đô la Úc (AUD), Đô la Canada (CAD), Đô la New Zealand (NZD) và các đồng tiền FX nhỏ như Rúp (RUB) và Rand Nam Phi (ZAR), tất cả đều có xu hướng tăng trên các thị trường “rủi ro”. Điều này là do nền kinh tế của các loại tiền tệ này phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu hàng hóa để tăng trưởng và giá hàng hóa có xu hướng tăng trong các giai đoạn rủi ro. Điều này là do các nhà đầu tư dự đoán nhu cầu về nguyên liệu thô sẽ tăng cao hơn trong tương lai do hoạt động kinh tế gia tăng.
Các loại tiền tệ chính có xu hướng tăng trong thời kỳ “rủi ro” là Đô la Mỹ (USD), Yên Nhật (JPY) và Franc Thụy Sĩ (CHF). Đô la Mỹ, vì đây là đồng tiền dự trữ của thế giới và vì trong thời kỳ khủng hoảng, các nhà đầu tư mua nợ chính phủ Hoa Kỳ, được coi là an toàn vì nền kinh tế lớn nhất thế giới khó có khả năng vỡ nợ. Đồng yên, do nhu cầu trái phiếu chính phủ Nhật Bản tăng, vì một tỷ lệ lớn được nắm giữ bởi các nhà đầu tư trong nước, những người không có khả năng bán tháo chúng - ngay cả trong khủng hoảng. Franc Thụy Sĩ, vì luật ngân hàng nghiêm ngặt của Thụy Sĩ cung cấp cho các nhà đầu tư sự bảo vệ vốn được tăng cường.