Cặp AUD/USD đã giảm thêm về gần 0,6690 trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Năm, từ mức cao nhất trong hơn một năm là 0,6766 được ghi nhận vào ngày trước đó. Cặp tiền này điều chỉnh mạnh khi đồng đô la Úc (AUD) chịu áp lực do chỉ số giá tiêu dùng (CPI) yếu và dữ liệu thặng dư thương mại yếu cho tháng 11.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Úc (AUD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Úc là yếu nhất so với Đồng Franc Thụy Sĩ.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.00% | 0.13% | -0.06% | 0.15% | 0.38% | 0.44% | -0.08% | |
| EUR | 0.00% | 0.14% | -0.05% | 0.15% | 0.39% | 0.44% | -0.08% | |
| GBP | -0.13% | -0.14% | -0.19% | 0.02% | 0.25% | 0.31% | -0.22% | |
| JPY | 0.06% | 0.05% | 0.19% | 0.20% | 0.44% | 0.46% | -0.04% | |
| CAD | -0.15% | -0.15% | -0.02% | -0.20% | 0.24% | 0.28% | -0.24% | |
| AUD | -0.38% | -0.39% | -0.25% | -0.44% | -0.24% | 0.06% | -0.47% | |
| NZD | -0.44% | -0.44% | -0.31% | -0.46% | -0.28% | -0.06% | -0.52% | |
| CHF | 0.08% | 0.08% | 0.22% | 0.04% | 0.24% | 0.47% | 0.52% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Úc từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đô la Mỹ, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho AUD (đồng tiền cơ sở)/USD (đồng tiền định giá).
Cục Thống kê Úc báo cáo vào thứ Tư rằng lạm phát tăng với tốc độ vừa phải là 3,4% so với ước tính là 3,7% và mức đọc tháng 10 là 3,8%. Trong tháng, áp lực giá vẫn giữ nguyên.
Phó Thống đốc Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) Andrew Hauser cho biết trong một cuộc phỏng vấn với Đài Phát thanh Úc, vào đầu ngày, rằng "dữ liệu CPI tháng 11 đã được dự đoán phần lớn", nhưng lạm phát trên 3% là quá cao, đồng thời nói thêm, "Chúng tôi muốn giữ lạm phát ở mức từ 2% đến 3% trong dài hạn." Hauser đã hướng dẫn về triển vọng chính sách tiền tệ rằng việc cắt giảm lãi suất là "không có khả năng xảy ra sớm", và "cuộc họp tháng 2 vẫn còn khả thi, với rủi ro tăng lãi suất vẫn được định giá".
Cơ quan Úc báo cáo, vào đầu ngày, rằng thặng dư thương mại thu hẹp xuống 2.936 triệu trong tháng 11 từ 4.353 triệu trong tháng 10. Cán cân thương mại của Úc bị thu hẹp khi xuất khẩu giảm 2,9% sau khi tăng 2,8% trong tháng trước.
Trong khi đó, đồng đô la Mỹ (USD) giao dịch vững chắc do dữ liệu PMI ngành dịch vụ ISM của Mỹ cho tháng 12 mạnh hơn mong đợi. Tại thời điểm viết bài, chỉ số đô la Mỹ (DXY), theo dõi giá trị của đồng bạc xanh so với sáu loại tiền tệ chính, đã quay lại mức cao nhất trong bốn tuần gần 98,86.
Vào thứ Tư, ISM báo cáo rằng PMI ngành dịch vụ đã tăng mạnh lên 54,4 từ 52,6 trong tháng 11, mức cao nhất được ghi nhận kể từ tháng 10 năm 2024.
Trong tương lai, các nhà đầu tư sẽ tập trung vào dữ liệu Bảng lương phi nông nghiệp (NFP) của Mỹ cho tháng 12, sẽ được công bố vào thứ Sáu.
Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) thiết lập lãi suất và quản lý chính sách tiền tệ cho Úc. Các quyết định được đưa ra bởi hội đồng thống đốc tại 11 cuộc họp một năm và các cuộc họp khẩn cấp theo yêu cầu. Nhiệm vụ chính của RBA là duy trì sự ổn định giá cả, nghĩa là tỷ lệ lạm phát ở mức 2-3%, nhưng cũng "...góp phần vào sự ổn định của đồng tiền, việc làm đầy đủ và sự thịnh vượng kinh tế và phúc lợi của người dân Úc". Công cụ chính để đạt được điều này là tăng hoặc giảm lãi suất. Lãi suất tương đối cao sẽ củng cố đồng Đô la Úc (AUD) và ngược lại. Các công cụ khác của RBA bao gồm nới lỏng định lượng và thắt chặt.
Trong khi lạm phát luôn được coi là yếu tố tiêu cực đối với tiền tệ vì nó làm giảm giá trị của tiền nói chung, thì thực tế lại ngược lại trong thời hiện đại với việc nới lỏng kiểm soát vốn xuyên biên giới. Lạm phát cao hơn một chút hiện có xu hướng khiến các ngân hàng trung ương tăng lãi suất, điều này lại có tác dụng thu hút thêm dòng vốn từ các nhà đầu tư toàn cầu đang tìm kiếm một nơi sinh lợi để giữ tiền của họ. Điều này làm tăng nhu cầu đối với đồng tiền địa phương, trong trường hợp của Úc là Đô la Úc.
Dữ liệu kinh tế vĩ mô đánh giá sức khỏe của một nền kinh tế và có thể tác động đến giá trị đồng tiền của nền kinh tế đó. Các nhà đầu tư thích đầu tư vốn của họ vào các nền kinh tế an toàn và đang phát triển hơn là bấp bênh và suy thoái. Dòng vốn chảy vào lớn hơn làm tăng tổng cầu và giá trị của đồng nội tệ. Các chỉ số kinh điển, chẳng hạn như GDP, Chỉ số người quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất và dịch vụ, việc làm và khảo sát tâm lý người tiêu dùng có thể ảnh hưởng đến AUD. Một nền kinh tế mạnh có thể khuyến khích Ngân hàng Dự trữ Úc tăng lãi suất, đồng thời hỗ trợ AUD.
Nới lỏng định lượng (QE) là một công cụ được sử dụng trong những tình huống cực đoan khi việc hạ lãi suất không đủ để khôi phục dòng tín dụng trong nền kinh tế. QE là quá trình Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) in Đô la Úc (AUD) nhằm mục đích mua tài sản – thường là trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu doanh nghiệp – từ các tổ chức tài chính, qua đó cung cấp cho họ thanh khoản rất cần thiết. QE thường dẫn đến đồng AUD yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là ngược lại với QE. Nó được thực hiện sau QE khi nền kinh tế đang phục hồi và lạm phát bắt đầu tăng. Trong khi ở QE, Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) mua trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp từ các tổ chức tài chính để cung cấp cho họ thanh khoản, thì ở QT, RBA ngừng mua thêm tài sản và ngừng tái đầu tư số tiền gốc đáo hạn vào các trái phiếu mà họ đang nắm giữ. Điều này sẽ tích cực (hoặc tăng giá) cho Đô la Úc.