Đồng yên Nhật (JPY) giao dịch cao hơn so với đồng đô la Mỹ (USD) mặc dù rủi ro địa chính trị tái xuất hiện. Cặp USD/JPY giảm 0,17% xuống gần 162,35 khi đồng đô la Mỹ chịu áp lực bán ngay cả khi các cuộc tấn công qua lại giữa Hoa Kỳ (US) và Iran đã làm mất ổn định kỳ vọng lạm phát của Hoa Kỳ (US) một lần nữa.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ là yếu nhất so với Đô la New Zealand.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.15% | -0.23% | -0.16% | 0.07% | -0.15% | -0.69% | -0.29% | |
| EUR | 0.15% | -0.07% | -0.04% | 0.22% | 0.03% | -0.51% | -0.13% | |
| GBP | 0.23% | 0.07% | 0.04% | 0.29% | 0.10% | -0.43% | -0.05% | |
| JPY | 0.16% | 0.04% | -0.04% | 0.22% | 0.05% | -0.52% | -0.12% | |
| CAD | -0.07% | -0.22% | -0.29% | -0.22% | -0.19% | -0.73% | -0.34% | |
| AUD | 0.15% | -0.03% | -0.10% | -0.05% | 0.19% | -0.54% | -0.15% | |
| NZD | 0.69% | 0.51% | 0.43% | 0.52% | 0.73% | 0.54% | 0.38% | |
| CHF | 0.29% | 0.13% | 0.05% | 0.12% | 0.34% | 0.15% | -0.38% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Tại thời điểm viết bài, Chỉ số Đô la Mỹ (DXY), theo dõi giá trị đồng bạc xanh so với sáu đồng tiền chính, giảm 0,15% xuống gần 100,900 mặc dù đã hồi phục một phần tổn thất ban đầu.
Vào thứ Tư, Tổng thống Hoa Kỳ (US) Donald Trump cho biết bên lề hội nghị thượng đỉnh Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) rằng lực lượng quân sự của chúng ta có thể sẽ tấn công Iran một lần nữa và cũng sẽ tấn công cơ sở hạ tầng điện và nước của quốc gia này nếu cần thiết. Cuộc tấn công của Mỹ vào cơ sở hạ tầng của Iran làm dấy lên lo ngại rằng căng thẳng ở Trung Đông có thể kéo dài, một kịch bản sẽ giữ giá dầu ở mức cao hơn và làm mất ổn định các dự báo lạm phát toàn cầu.
Trong khi đó, Biên bản cuộc họp chính sách tháng Sáu của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) cho thấy vào thứ Tư rằng các quan chức đã lo ngại về rủi ro lạm phát tăng cao và một số người trong số họ tin rằng các điều kiện tiền tệ sẽ thắt chặt hơn nữa.
Tại Tokyo, các nhà đầu tư tìm kiếm các tín hiệu mới về việc liệu Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) có tăng lãi suất thêm lần nữa trong năm nay hay không. Bản sửa đổi đề xuất trong kế hoạch chính sách kinh tế hàng năm của Nhật Bản do chính phủ đề xuất cho thấy ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục con đường thắt chặt tiền tệ dần dần.
Theo Nikkei, bản sửa đổi đề xuất nhấn mạnh sự độc lập của BoJ đồng thời khẳng định cam kết đạt được sự ổn định về lạm phát.
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.