Eurostat sẽ công bố Chỉ số giá tiêu dùng (HICP) hài hòa sơ bộ của khu vực đồng euro cho tháng 4 và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cho quý đầu tiên năm 2026 vào thứ Năm lúc 09:00 GMT.
Lạm phát HICP của khu vực đồng euro dự kiến sẽ tăng nhẹ lên 2,9% so với cùng kỳ năm trước (YoY) trong tháng 4, từ mức 2,6% trong tháng 3. Trong khi đó, lạm phát cơ bản hàng năm được dự đoán sẽ duy trì ổn định ở mức 2,3% trong tháng báo cáo.
Lạm phát hàng tháng của khu vực đồng euro và lạm phát cơ bản lần lượt là 1,3% và 0,8% trong tháng 3.
Trong khi đó, GDP sơ bộ của khu vực đồng euro được điều chỉnh theo mùa dự kiến sẽ tăng 0,2% theo quý (QoQ) trong quý 1, không đổi so với số liệu trước đó, trong khi tăng trưởng hàng năm được dự báo sẽ chậm lại còn 0,9% từ mức 1,2%.
Cặp EUR/USD có thể duy trì ổn định nếu số liệu HICP như kỳ vọng. Tuy nhiên, cặp tiền này có thể giảm giá thêm khi đồng Euro (EUR) có thể gặp khó khăn trong bối cảnh sự gia tăng của tâm lý tránh rủi ro, điều này có thể liên quan đến căng thẳng địa chính trị ở Trung Đông.
Nhà giao dịch kỳ vọng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sẽ giữ nguyên lãi suất vào cuối ngày, phù hợp với nhiều ngân hàng trung ương toàn cầu trong tuần này, đồng thời báo hiệu rằng một đợt tăng lãi suất, có thể sớm nhất là vào tháng 6, có thể cần thiết để đối phó với sự tăng giá tiêu dùng do năng lượng gây ra.
Cặp EUR/USD có thể mất giá khi đồng Đô la Mỹ (USD) vẫn vững chắc, điều này có thể do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giữ nguyên lãi suất nhưng phát đi tín hiệu thắt chặt hơn trong bối cảnh lo ngại lạm phát gia tăng.
Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đã bỏ phiếu 8-4 vào thứ Tư để giữ nguyên lãi suất trong khoảng 3,5%–3,75%, đánh dấu lần đầu tiên có bốn phiếu phản đối kể từ tháng 10 năm 1992. Ủy ban nhấn mạnh rằng "lạm phát vẫn ở mức cao, một phần do sự tăng gần đây của giá năng lượng toàn cầu."
Về mặt kỹ thuật, cặp EUR/USD ổn định sau khi hồi phục các khoản lỗ trong ngày, giao dịch quanh mức 1,1680 tại thời điểm viết bài. Chỉ báo sức mạnh tương đối (RSI) 14 ngày quanh mức 49 cho thấy đà tăng đang suy yếu và xu hướng tích luỹ. Cặp tiền này dao động quanh đường trung bình động hàm mũ (EMA) 50 ngày tại 1,1678, tiếp theo là ngưỡng EMA 9 ngày tại 1,1700. Về phía giảm, cặp EUR/USD có thể điều hướng khu vực quanh mức thấp nhất trong tám tháng là 1,1411, được ghi nhận vào ngày 13 tháng 3.
Lạm phát đo lường mức tăng giá của một rổ hàng hóa và dịch vụ tiêu biểu. Lạm phát tiêu đề thường được thể hiện dưới dạng phần trăm thay đổi theo tháng (hàng tháng) và theo năm (hàng năm). Lạm phát cốt lõi không bao gồm các yếu tố dễ biến động hơn như thực phẩm và nhiên liệu có thể dao động do các yếu tố địa chính trị và theo mùa. Lạm phát cốt lõi là con số mà các nhà kinh tế tập trung vào và là mức mà các ngân hàng trung ương nhắm tới, được giao nhiệm vụ giữ lạm phát ở mức có thể kiểm soát được, thường là khoảng 2%.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo lường sự thay đổi giá của một rổ hàng hóa và dịch vụ trong một khoảng thời gian. Chỉ số này thường được thể hiện dưới dạng phần trăm thay đổi theo tháng (hàng tháng) và theo năm (hàng năm). CPI cơ bản là con số mà các ngân hàng trung ương nhắm đến vì nó không bao gồm các đầu vào thực phẩm và nhiên liệu biến động. Khi CPI cơ bản tăng trên 2%, thường dẫn đến lãi suất cao hơn và ngược lại khi giảm xuống dưới 2%. Vì lãi suất cao hơn là tích cực đối với một loại tiền tệ, nên lạm phát cao hơn thường dẫn đến một loại tiền tệ mạnh hơn. Điều ngược lại xảy ra khi lạm phát giảm.
Mặc dù có vẻ trái ngược với thông thường, lạm phát cao ở một quốc gia sẽ đẩy giá trị đồng tiền của quốc gia đó lên và ngược lại đối với lạm phát thấp hơn. Điều này là do ngân hàng trung ương thường sẽ tăng lãi suất để chống lại lạm phát cao hơn, điều này thu hút nhiều dòng vốn toàn cầu hơn từ các nhà đầu tư đang tìm kiếm một nơi sinh lợi để gửi tiền của họ.
Trước đây, Vàng là tài sản mà các nhà đầu tư hướng đến trong thời kỳ lạm phát cao vì nó bảo toàn giá trị của nó, và trong khi các nhà đầu tư thường vẫn mua Vàng vì tính chất trú ẩn an toàn của nó trong thời kỳ thị trường biến động cực độ, thì hầu hết thời gian không phải vậy. Điều này là do khi lạm phát cao, các ngân hàng trung ương sẽ tăng lãi suất để chống lại lạm phát. Lãi suất cao hơn là tiêu cực đối với Vàng vì chúng làm tăng chi phí cơ hội khi nắm giữ Vàng so với tài sản sinh lãi hoặc gửi tiền vào tài khoản tiền gửi bằng tiền mặt. Mặt khác, lạm phát thấp hơn có xu hướng tích cực đối với Vàng vì nó làm giảm lãi suất, khiến kim loại sáng này trở thành một lựa chọn đầu tư khả thi hơn.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một quốc gia đo lường tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một quý. Các số liệu đáng tin cậy nhất là các số liệu so sánh GDP với quý trước, ví dụ: Quý 2 năm 2023 so với Quý 1 năm 2023 hoặc với cùng kỳ năm trước, ví dụ: Quý 2 năm 2023 so với Quý 2 năm 2022. Các số liệu GDP theo quý được tính theo năm sẽ ngoại suy tốc độ tăng trưởng của quý như thể tốc độ này không đổi trong suốt phần còn lại của năm. Tuy nhiên, những số liệu này có thể gây hiểu lầm nếu các cú sốc tạm thời tác động đến tăng trưởng trong một quý nhưng không có khả năng kéo dài cả năm - chẳng hạn như đã xảy ra trong quý đầu tiên của năm 2020 khi đại dịch covid bùng phát, khi tăng trưởng giảm mạnh.
Kết quả GDP cao hơn thường là tích cực cho đồng tiền của một quốc gia vì nó phản ánh nền kinh tế đang phát triển, có nhiều khả năng sản xuất hàng hóa và dịch vụ có thể xuất khẩu, cũng như thu hút đầu tư nước ngoài cao hơn. Tương tự như vậy, khi GDP giảm, thường là tiêu cực cho đồng tiền. Khi nền kinh tế tăng trưởng, mọi người có xu hướng chi tiêu nhiều hơn, dẫn đến lạm phát. Ngân hàng trung ương của quốc gia đó sau đó phải tăng lãi suất để chống lại lạm phát với tác dụng phụ là thu hút thêm dòng vốn từ các nhà đầu tư toàn cầu, do đó giúp đồng tiền địa phương tăng giá.
Khi nền kinh tế tăng trưởng và GDP tăng, mọi người có xu hướng chi tiêu nhiều hơn dẫn đến lạm phát. Ngân hàng trung ương của quốc gia sau đó phải đưa ra lãi suất để chống lại lạm phát. Lãi suất cao hơn là tiêu cực đối với Vàng vì làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ Vàng so với việc gửi tiền vào tài khoản tiền gửi bằng tiền mặt. Do đó, tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn thường là yếu tố giảm giá đối với giá Vàng.