Dưới đây là những gì bạn cần biết vào thứ Tư, ngày 18 tháng 3:
Có một sự chuyển biến tích cực trong tâm lý thị trường giữa tuần, được hỗ trợ bởi sự giảm giá của dầu thô. Trong nửa cuối ngày, lịch kinh tế Mỹ sẽ công bố dữ liệu Chỉ số giá sản xuất (PPI) cho tháng 2. Quan trọng hơn, Ngân hàng trung ương Canada (BoC) và Cục Dự trữ Liên bang (Fed) sẽ công bố các quyết định về chính sách tiền tệ.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê tuần này. Đô la Mỹ là yếu nhất so với Đô la Úc.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.87% | -0.81% | -0.49% | -0.11% | -1.66% | -1.12% | -0.46% | |
| EUR | 0.87% | 0.08% | 0.31% | 0.76% | -0.79% | -0.26% | 0.41% | |
| GBP | 0.81% | -0.08% | 0.38% | 0.68% | -0.85% | -0.33% | 0.40% | |
| JPY | 0.49% | -0.31% | -0.38% | 0.39% | -1.17% | -0.62% | 0.02% | |
| CAD | 0.11% | -0.76% | -0.68% | -0.39% | -1.59% | -1.00% | -0.34% | |
| AUD | 1.66% | 0.79% | 0.85% | 1.17% | 1.59% | 0.53% | 1.21% | |
| NZD | 1.12% | 0.26% | 0.33% | 0.62% | 1.00% | -0.53% | 0.64% | |
| CHF | 0.46% | -0.41% | -0.40% | -0.02% | 0.34% | -1.21% | -0.64% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Iran xác nhận vào thứ Ba rằng Ali Larijani, thư ký của Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao, người mà Israel mô tả là "nhà lãnh đạo de facto", đã bị giết trong một cuộc không kích của Israel. Sáng thứ Tư, Israel đã khởi động một đợt không kích mới vào thủ đô Beirut của Lebanon và ra lệnh sơ tán, trong khi quân đội Mỹ đã phóng "bom thâm nhập sâu" nhắm vào các địa điểm tên lửa của Iran dọc theo Eo biển Hormuz.
Trong khi đó, trích dẫn nguồn từ Công ty Dầu khí Bắc, Reuters báo cáo rằng Baghdad và Chính phủ Khu vực Kurdistan (KRG) đã đạt được thỏa thuận để nối lại xuất khẩu dầu thô từ các mỏ Kirkuk của Iraq đến cảng Ceyhan của Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi tăng hơn 2% vào thứ Ba, giá dầu West Texas Intermediate (WTI) giảm nhẹ và giao dịch ở mức khoảng 93,00$, giảm khoảng 2,5% trong ngày.
Sau khi tăng nhẹ trong nửa đầu ngày, Chỉ số đô la Mỹ (USD) đã đảo chiều trong phiên giao dịch tại Mỹ vào thứ Ba và đóng cửa ngày thứ hai liên tiếp trong vùng tiêu cực, bị áp lực bởi tâm lý rủi ro cải thiện. Sáng thứ Tư, Chỉ số USD giữ ổn định trên 99,50, trong khi hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán Mỹ tăng từ 0,5% đến 0,6%. Fed được cho là sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách sau cuộc họp tháng 3. Cùng với tuyên bố chính sách, ngân hàng trung ương Mỹ cũng sẽ công bố Tóm tắt Dự báo Kinh tế. Bắt đầu từ 18:30 GMT, Chủ tịch Fed Jerome Powell sẽ tổ chức một cuộc họp báo.
Sau khi không thể thực hiện một động thái quyết định theo bất kỳ hướng nào và đóng cửa gần như không thay đổi vào thứ Ba, USD/CAD giao dịch tăng nhẹ trong ngày trên mức 1,3700. Dự báo BoC sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách ở mức 2,25%.
Vàng vẫn trong giai đoạn củng cố và giao dịch dưới mức 5.000$ trong phiên giao dịch châu Âu vào thứ Tư sau khi gặp khó khăn trong việc tìm hướng đi vào thứ Hai và thứ Ba.
EUR/USD dao động trong một kênh hẹp 1,1500 vào buổi sáng thứ Tư tại châu Âu. Eurostat sẽ công bố các sửa đổi dữ liệu Chỉ số giá tiêu dùng đã hài hòa (HICP) tháng 2 vào cuối ngày. Vào thứ Năm, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) sẽ công bố các quyết định chính sách.
GBP/USD được hưởng lợi từ dòng tiền rủi ro và mở rộng đà phục hồi sang ngày thứ hai liên tiếp vào thứ Ba. Cặp này giữ ổn định ở mức khoảng 1,3350 vào sáng thứ Tư. Ngân hàng trung ương Anh (BoE) dự kiến sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách vào thứ Năm.
USD/JPY vẫn chịu áp lực giảm giá khiêm tốn vào buổi sáng châu Âu và giao dịch dưới 159,00. Ngân hàng trung ương Nhật Bản sẽ công bố quyết định lãi suất trong phiên giao dịch châu Á vào thứ Năm.
Chính sách tiền tệ tại Hoa Kỳ được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được các mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, làm tăng chi phí đi vay trên toàn bộ nền kinh tế. Điều này dẫn đến đồng Đô la Mỹ (USD) mạnh hơn vì khiến Hoa Kỳ trở thành nơi hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư quốc tế gửi tiền của họ. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất để khuyến khích đi vay, điều này gây áp lực lên Đồng bạc xanh.
Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tổ chức tám cuộc họp chính sách mỗi năm, trong đó Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đánh giá các điều kiện kinh tế và đưa ra các quyết định về chính sách tiền tệ. FOMC có sự tham dự của mười hai quan chức Fed – bảy thành viên của Hội đồng Thống đốc, Thống đốc Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York và bốn trong số mười một Thống đốc Ngân hàng Dự trữ khu vực còn lại, những người phục vụ nhiệm kỳ một năm theo chế độ luân phiên.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang có thể dùng đến một chính sách có tên là Nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bị kẹt. Đây là một biện pháp chính sách không theo tiêu chuẩn được sử dụng trong các cuộc khủng hoảng hoặc khi lạm phát cực kỳ thấp. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Điều này liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu cấp cao từ các tổ chức tài chính. QE thường làm suy yếu Đồng đô la Mỹ.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại của Nới lỏng định lượng (QE), theo đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư số tiền gốc từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn để mua trái phiếu mới. Thông thường, điều này có lợi cho giá trị của đồng đô la Mỹ.