Đồng euro (EUR) giảm xuống mức thấp nhất trong tháng quanh 1,1362 so với đồng đô la Mỹ (USD) trong phiên giao dịch đầu giờ châu Âu vào thứ Ba. Cặp tiền tệ chính suy yếu khi đồng đô la Mỹ kéo dài đà tăng trong bối cảnh thận trọng trước thông báo chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vào thứ Tư.
Vào thời điểm viết bài, Chỉ số đô la Mỹ (DXY), thước đo giá trị của đồng bạc xanh so với sáu đồng tiền chủ chốt, giao dịch nhích lên nhẹ, gần mức cao nhất trong tháng quanh 101,59.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê tuần này. Đô la Mỹ mạnh nhất so với Đô la New Zealand.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | 0.24% | 0.34% | 0.05% | 0.22% | 0.48% | 0.66% | 0.37% | |
| EUR | -0.24% | 0.08% | -0.19% | -0.02% | 0.25% | 0.42% | 0.13% | |
| GBP | -0.34% | -0.08% | -0.39% | -0.07% | 0.17% | 0.33% | 0.04% | |
| JPY | -0.05% | 0.19% | 0.39% | 0.16% | 0.43% | 0.61% | 0.23% | |
| CAD | -0.22% | 0.02% | 0.07% | -0.16% | 0.24% | 0.44% | 0.15% | |
| AUD | -0.48% | -0.25% | -0.17% | -0.43% | -0.24% | 0.17% | -0.12% | |
| NZD | -0.66% | -0.42% | -0.33% | -0.61% | -0.44% | -0.17% | -0.29% | |
| CHF | -0.37% | -0.13% | -0.04% | -0.23% | -0.15% | 0.12% | 0.29% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Tại cuộc họp chính sách, Fed được kỳ vọng cao sẽ giữ nguyên lãi suất trong phạm vi 3,50%-3,75%. Công cụ CME FedWatch cho thấy 62% khả năng Fed sẽ giữ nguyên hiện trạng.
Nhà đầu tư sẽ đặc biệt chú ý đến tuyên bố chính sách tiền tệ của Fed và cuộc họp báo của Chủ tịch Kevin Warsh để có thêm tín hiệu mới về lạm phát và triển vọng kinh tế. Fed khó có khả năng đưa ra bất kỳ nhận định nào về triển vọng chính sách tiền tệ, khi Warsh đã nói trong cuộc họp báo chính sách gần nhất rằng "định hướng tương lai, hay còn gọi là forward guidance, không phù hợp trong giai đoạn chính sách hiện tại".
Công cụ CME FedWatch cho thấy xác suất Fed tăng lãi suất tại cuộc họp chính sách tiếp theo vào tháng 9 là 80,8%.
Về phía khu vực đồng euro, nhà đầu tư chờ đợi dữ liệu Chỉ số giá tiêu dùng hài hòa (HICP) sơ bộ của Đức và khu vực đồng euro cho tháng 7, sẽ lần lượt được công bố vào thứ Năm và thứ Sáu.
Nhà đầu tư sẽ theo dõi chặt chẽ dữ liệu lạm phát vì nó được kỳ vọng sẽ ảnh hưởng đáng kể đến kỳ vọng lãi suất của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB). Vào thứ Hai, thành viên Hội đồng Quản trị ECB và Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Slovakia (NBS), Peter Kazimir, cho biết rằng sẽ cần ít nhất một đợt tăng lãi suất để kiềm chế áp lực lạm phát ở mức cao.
Lạm phát đo lường mức tăng giá của một rổ hàng hóa và dịch vụ tiêu biểu. Lạm phát tiêu đề thường được thể hiện dưới dạng phần trăm thay đổi theo tháng (hàng tháng) và theo năm (hàng năm). Lạm phát cốt lõi không bao gồm các yếu tố dễ biến động hơn như thực phẩm và nhiên liệu có thể dao động do các yếu tố địa chính trị và theo mùa. Lạm phát cốt lõi là con số mà các nhà kinh tế tập trung vào và là mức mà các ngân hàng trung ương nhắm tới, được giao nhiệm vụ giữ lạm phát ở mức có thể kiểm soát được, thường là khoảng 2%.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo lường sự thay đổi giá của một rổ hàng hóa và dịch vụ trong một khoảng thời gian. Chỉ số này thường được thể hiện dưới dạng phần trăm thay đổi theo tháng (hàng tháng) và theo năm (hàng năm). CPI cơ bản là con số mà các ngân hàng trung ương nhắm đến vì nó không bao gồm các đầu vào thực phẩm và nhiên liệu biến động. Khi CPI cơ bản tăng trên 2%, thường dẫn đến lãi suất cao hơn và ngược lại khi giảm xuống dưới 2%. Vì lãi suất cao hơn là tích cực đối với một loại tiền tệ, nên lạm phát cao hơn thường dẫn đến một loại tiền tệ mạnh hơn. Điều ngược lại xảy ra khi lạm phát giảm.
Mặc dù có vẻ trái ngược với thông thường, lạm phát cao ở một quốc gia sẽ đẩy giá trị đồng tiền của quốc gia đó lên và ngược lại đối với lạm phát thấp hơn. Điều này là do ngân hàng trung ương thường sẽ tăng lãi suất để chống lại lạm phát cao hơn, điều này thu hút nhiều dòng vốn toàn cầu hơn từ các nhà đầu tư đang tìm kiếm một nơi sinh lợi để gửi tiền của họ.
Trước đây, Vàng là tài sản mà các nhà đầu tư hướng đến trong thời kỳ lạm phát cao vì nó bảo toàn giá trị của nó, và trong khi các nhà đầu tư thường vẫn mua Vàng vì tính chất trú ẩn an toàn của nó trong thời kỳ thị trường biến động cực độ, thì hầu hết thời gian không phải vậy. Điều này là do khi lạm phát cao, các ngân hàng trung ương sẽ tăng lãi suất để chống lại lạm phát. Lãi suất cao hơn là tiêu cực đối với Vàng vì chúng làm tăng chi phí cơ hội khi nắm giữ Vàng so với tài sản sinh lãi hoặc gửi tiền vào tài khoản tiền gửi bằng tiền mặt. Mặt khác, lạm phát thấp hơn có xu hướng tích cực đối với Vàng vì nó làm giảm lãi suất, khiến kim loại sáng này trở thành một lựa chọn đầu tư khả thi hơn.