Cặp AUD/USD giữ vững đà tăng của ngày thứ Năm gần 0,7200 trong phiên giao dịch châu Á vào thứ Sáu. Cặp tiền này phản ánh sức mạnh khi đồng đô la Úc (AUD) giao dịch vững chắc trên diện rộng trong bối cảnh kỳ vọng Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) sẽ tiếp tục tăng lãi suất trong cuộc họp chính sách tiền tệ sắp tới vào thứ Ba.
Theo cuộc thăm dò của Reuters từ ngày 27 đến 30 tháng 4, 30 trong số 33 nhà kinh tế dự đoán rằng RBA sẽ tăng Tỷ lệ tiền mặt chính thức (OCR) thêm 25 điểm cơ bản (bps) lên 4,35%.
Triển vọng diều hâu của RBA được hỗ trợ bởi áp lực lạm phát gia tăng tại Úc. Dữ liệu công bố vào thứ Tư cho thấy Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) quý 1 tăng với tốc độ hàng năm là 4,1%, đúng như dự kiến, cao hơn mức đọc trước đó là 3,6%.
Trong khi đó, đồng Đô la Mỹ (USD) chuẩn bị đóng cửa tuần trong vùng tiêu cực do sự can thiệp của Nhật Bản trên thị trường ngoại hối. Tại thời điểm viết bài, Chỉ số Đô la Mỹ (DXY), theo dõi giá trị của đồng bạc xanh so với sáu loại tiền tệ chính, giao dịch gần mức thấp nhất trong 10 ngày khoảng 98,00.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê tuần này. Đô la Mỹ là yếu nhất so với Đồng Yên Nhật.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.26% | -0.64% | -1.48% | -0.71% | -0.83% | -0.46% | -0.64% | |
| EUR | 0.26% | -0.36% | -1.29% | -0.42% | -0.55% | -0.18% | -0.35% | |
| GBP | 0.64% | 0.36% | -0.86% | -0.05% | -0.21% | 0.19% | 0.00% | |
| JPY | 1.48% | 1.29% | 0.86% | 0.82% | 0.69% | 1.12% | 0.92% | |
| CAD | 0.71% | 0.42% | 0.05% | -0.82% | -0.08% | 0.31% | 0.07% | |
| AUD | 0.83% | 0.55% | 0.21% | -0.69% | 0.08% | 0.37% | 0.20% | |
| NZD | 0.46% | 0.18% | -0.19% | -1.12% | -0.31% | -0.37% | -0.18% | |
| CHF | 0.64% | 0.35% | -0.01% | -0.92% | -0.07% | -0.20% | 0.18% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
Trong phiên giao dịch ngày thứ Sáu, các nhà đầu tư sẽ tập trung vào dữ liệu Chỉ số người quản lý mua hàng (PMI) ngành sản xuất ISM của Mỹ cho tháng 4, sẽ được công bố lúc 14:00 GMT. Chỉ số PMI ngành sản xuất dự kiến sẽ tăng lên 53,0 từ mức 52,7 trong tháng 3.

AUD/USD giao dịch quanh mức 0,7200 tại thời điểm viết bài. Cặp tiền duy trì xu hướng tăng tích cực khi giá giữ trên đường trung bình động hàm mũ (EMA) 20 ngày tại 0,7125. Cặp tiền đã tăng dần từ mức thấp cuối tháng 12, và hành động giá trên EMA ngắn hạn này cho thấy người mua vẫn kiểm soát trong ngắn hạn.
Chỉ số sức mạnh tương đối (RSI) (14) quanh mức 60 củng cố đà tích cực mà chưa báo hiệu điều kiện quá mua, gợi ý rằng các nhịp giảm có thể tiếp tục thu hút nhu cầu trong khi cấu trúc hiện tại được duy trì.
Về phía hỗ trợ, mức hỗ trợ ngay lập tức được xác định bởi EMA 20 ngày tại 0,7125, nơi một sự phá vỡ quyết định sẽ báo hiệu áp lực tăng giá suy yếu và mở ra khả năng điều chỉnh sâu hơn dưới ngưỡng 0,7100. Miễn là AUD/USD giữ trên đường trung bình động này, trọng tâm vẫn là phía trên, với cặp tiền sẵn sàng thử lại mức cao nhiều năm tại 0,7220. Một sự phá vỡ quyết định trên 0,7220 sẽ đẩy giá tăng tiếp lên 0,7300.
(Phân tích kỹ thuật của bài viết này được thực hiện với sự hỗ trợ của công cụ AI.)
Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) thiết lập lãi suất và quản lý chính sách tiền tệ cho Úc. Các quyết định được đưa ra bởi hội đồng thống đốc tại 11 cuộc họp một năm và các cuộc họp khẩn cấp theo yêu cầu. Nhiệm vụ chính của RBA là duy trì sự ổn định giá cả, nghĩa là tỷ lệ lạm phát ở mức 2-3%, nhưng cũng "...góp phần vào sự ổn định của đồng tiền, việc làm đầy đủ và sự thịnh vượng kinh tế và phúc lợi của người dân Úc". Công cụ chính để đạt được điều này là tăng hoặc giảm lãi suất. Lãi suất tương đối cao sẽ củng cố đồng Đô la Úc (AUD) và ngược lại. Các công cụ khác của RBA bao gồm nới lỏng định lượng và thắt chặt.
Trong khi lạm phát luôn được coi là yếu tố tiêu cực đối với tiền tệ vì nó làm giảm giá trị của tiền nói chung, thì thực tế lại ngược lại trong thời hiện đại với việc nới lỏng kiểm soát vốn xuyên biên giới. Lạm phát cao hơn một chút hiện có xu hướng khiến các ngân hàng trung ương tăng lãi suất, điều này lại có tác dụng thu hút thêm dòng vốn từ các nhà đầu tư toàn cầu đang tìm kiếm một nơi sinh lợi để giữ tiền của họ. Điều này làm tăng nhu cầu đối với đồng tiền địa phương, trong trường hợp của Úc là Đô la Úc.
Dữ liệu kinh tế vĩ mô đánh giá sức khỏe của một nền kinh tế và có thể tác động đến giá trị đồng tiền của nền kinh tế đó. Các nhà đầu tư thích đầu tư vốn của họ vào các nền kinh tế an toàn và đang phát triển hơn là bấp bênh và suy thoái. Dòng vốn chảy vào lớn hơn làm tăng tổng cầu và giá trị của đồng nội tệ. Các chỉ số kinh điển, chẳng hạn như GDP, Chỉ số người quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất và dịch vụ, việc làm và khảo sát tâm lý người tiêu dùng có thể ảnh hưởng đến AUD. Một nền kinh tế mạnh có thể khuyến khích Ngân hàng Dự trữ Úc tăng lãi suất, đồng thời hỗ trợ AUD.
Nới lỏng định lượng (QE) là một công cụ được sử dụng trong những tình huống cực đoan khi việc hạ lãi suất không đủ để khôi phục dòng tín dụng trong nền kinh tế. QE là quá trình Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) in Đô la Úc (AUD) nhằm mục đích mua tài sản – thường là trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu doanh nghiệp – từ các tổ chức tài chính, qua đó cung cấp cho họ thanh khoản rất cần thiết. QE thường dẫn đến đồng AUD yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là ngược lại với QE. Nó được thực hiện sau QE khi nền kinh tế đang phục hồi và lạm phát bắt đầu tăng. Trong khi ở QE, Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) mua trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp từ các tổ chức tài chính để cung cấp cho họ thanh khoản, thì ở QT, RBA ngừng mua thêm tài sản và ngừng tái đầu tư số tiền gốc đáo hạn vào các trái phiếu mà họ đang nắm giữ. Điều này sẽ tích cực (hoặc tăng giá) cho Đô la Úc.