Đồng Euro (EUR) tăng giá so với các đồng tiền chính vào thứ Sáu, được thúc đẩy bởi tin tức cho biết Nga và Ukraine có thể sắp đạt được thỏa thuận hòa bình. Cặp EUR/JPY đã mở rộng đà tăng từ mức thấp giữa tháng Ba là 182,00 lên 186,50 cho đến nay, đưa mức cao trong năm tại 186,88 vào tầm ngắm.
Đồng Euro được hỗ trợ bởi một báo cáo của Bloomberg trích dẫn nhận xét từ một trợ lý cấp cao của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskyy, người gợi ý rằng Kyiv có thể sắp đạt được thỏa thuận hòa bình với Nga.
Bên cạnh đó, Moscow đã tuyên bố ngừng bắn 32 giờ nhân dịp lễ Phục sinh Chính thống giáo, và một quan chức cấp cao của Kremlin khẳng định rằng có thể có hòa bình ngay hôm nay nếu Zelenskyy đưa ra quyết định, mặc dù ông này bổ sung rằng Nga muốn hòa bình chứ không chỉ là ngừng bắn.
Trước đó, đồng Euro đi ngang do những lo ngại của thị trường về sự mong manh của thỏa thuận hòa bình ở Iran đã làm giảm khẩu vị rủi ro. Trong lịch kinh tế, dữ liệu Chỉ số Giá tiêu dùng của Đức cho tháng Ba, được công bố vào đầu ngày thứ Sáu, xác nhận áp lực lạm phát gia tăng do cuộc chiến ở Iran và tăng thêm áp lực lên Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) để sớm tăng lãi suất.
Vào thứ Năm, Chỉ số Giá sản xuất (PPI) của Nhật Bản cho thấy mức tăng 2,6% theo năm trong tháng Ba, cao hơn mức 2,0% của tháng Hai, trong khi PPI hàng tháng tăng lên 0,8% từ 0,1% của tháng trước. Những con số này xác nhận tác động lạm phát của cuộc chiến Trung Đông và gây áp lực lên Ngân hàng Trung ương Nhật Bản để tăng lãi suất trong những tháng tới.
Lạm phát đo lường mức tăng giá của một rổ hàng hóa và dịch vụ tiêu biểu. Lạm phát tiêu đề thường được thể hiện dưới dạng phần trăm thay đổi theo tháng (hàng tháng) và theo năm (hàng năm). Lạm phát cốt lõi không bao gồm các yếu tố dễ biến động hơn như thực phẩm và nhiên liệu có thể dao động do các yếu tố địa chính trị và theo mùa. Lạm phát cốt lõi là con số mà các nhà kinh tế tập trung vào và là mức mà các ngân hàng trung ương nhắm tới, được giao nhiệm vụ giữ lạm phát ở mức có thể kiểm soát được, thường là khoảng 2%.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo lường sự thay đổi giá của một rổ hàng hóa và dịch vụ trong một khoảng thời gian. Chỉ số này thường được thể hiện dưới dạng phần trăm thay đổi theo tháng (hàng tháng) và theo năm (hàng năm). CPI cơ bản là con số mà các ngân hàng trung ương nhắm đến vì nó không bao gồm các đầu vào thực phẩm và nhiên liệu biến động. Khi CPI cơ bản tăng trên 2%, thường dẫn đến lãi suất cao hơn và ngược lại khi giảm xuống dưới 2%. Vì lãi suất cao hơn là tích cực đối với một loại tiền tệ, nên lạm phát cao hơn thường dẫn đến một loại tiền tệ mạnh hơn. Điều ngược lại xảy ra khi lạm phát giảm.
Mặc dù có vẻ trái ngược với thông thường, lạm phát cao ở một quốc gia sẽ đẩy giá trị đồng tiền của quốc gia đó lên và ngược lại đối với lạm phát thấp hơn. Điều này là do ngân hàng trung ương thường sẽ tăng lãi suất để chống lại lạm phát cao hơn, điều này thu hút nhiều dòng vốn toàn cầu hơn từ các nhà đầu tư đang tìm kiếm một nơi sinh lợi để gửi tiền của họ.
Trước đây, Vàng là tài sản mà các nhà đầu tư hướng đến trong thời kỳ lạm phát cao vì nó bảo toàn giá trị của nó, và trong khi các nhà đầu tư thường vẫn mua Vàng vì tính chất trú ẩn an toàn của nó trong thời kỳ thị trường biến động cực độ, thì hầu hết thời gian không phải vậy. Điều này là do khi lạm phát cao, các ngân hàng trung ương sẽ tăng lãi suất để chống lại lạm phát. Lãi suất cao hơn là tiêu cực đối với Vàng vì chúng làm tăng chi phí cơ hội khi nắm giữ Vàng so với tài sản sinh lãi hoặc gửi tiền vào tài khoản tiền gửi bằng tiền mặt. Mặt khác, lạm phát thấp hơn có xu hướng tích cực đối với Vàng vì nó làm giảm lãi suất, khiến kim loại sáng này trở thành một lựa chọn đầu tư khả thi hơn.