EUR/USD mở đầu năm với mức lỗ nhẹ, giao dịch quanh mức 1,1740 tại thời điểm viết bài sau khi đã đạt đỉnh trên 1,1800 vào cuối tháng 12. Hầu hết các đồng tiền đã dao động trong các khoảng hẹp trong một phiên giao dịch yên tĩnh ở châu Á, với khối lượng giao dịch vẫn mỏng khi các thị trường ở Trung Quốc và Nhật Bản vẫn đóng cửa để ăn mừng Tết Nguyên Đán.
Xét từ một góc độ rộng hơn, cặp tiền này vẫn ở khoảng cách ngắn so với mức cao nhất ba tháng tại 1,1808 được ghi nhận ngay trước Giáng sinh. Đồng đô la Mỹ (USD) đã giảm khoảng 14% so với đồng euro trong năm 2025, bị ảnh hưởng bởi những lo ngại của thị trường về chính sách thương mại thất thường của Tổng thống Mỹ Donald Trump, dấu hiệu suy giảm trong nền kinh tế Mỹ, và gần đây là sự phân kỳ trong chính sách tiền tệ giữa Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Trên mặt trận kinh tế vĩ mô, trọng tâm hôm nay sẽ là việc công bố các chỉ số PMI ngành sản xuất HCOB cuối cùng ở Khu vực đồng euro và một số quốc gia thành viên của nó. Tại Mỹ, chỉ số PMI ngành sản xuất S&P có thể cung cấp một số động lực mới cho đồng bạc xanh.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đồng Euro (EUR) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê tuần này. Đồng Euro mạnh nhất so với Đô la New Zealand.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | 0.25% | 0.16% | 0.28% | 0.37% | 0.10% | 1.28% | 0.55% | |
| EUR | -0.25% | -0.09% | 0.04% | 0.12% | -0.16% | 1.02% | 0.30% | |
| GBP | -0.16% | 0.09% | 0.27% | 0.21% | -0.06% | 1.11% | 0.39% | |
| JPY | -0.28% | -0.04% | -0.27% | 0.10% | -0.18% | 0.98% | 0.28% | |
| CAD | -0.37% | -0.12% | -0.21% | -0.10% | -0.23% | 0.88% | 0.18% | |
| AUD | -0.10% | 0.16% | 0.06% | 0.18% | 0.23% | 1.18% | 0.46% | |
| NZD | -1.28% | -1.02% | -1.11% | -0.98% | -0.88% | -1.18% | -0.72% | |
| CHF | -0.55% | -0.30% | -0.39% | -0.28% | -0.18% | -0.46% | 0.72% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đồng Euro từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đô la Mỹ, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho EUR (đồng tiền cơ sở)/USD (đồng tiền định giá).

Xu hướng ngay lập tức của EUR/USD vẫn là giảm giá, sau khi phá vỡ mức hỗ trợ đường xu hướng từ mức thấp giữa tháng 11. Chỉ số Sức mạnh Tương đối (RSI) 4 giờ dường như không thể trở lại trên mức 50 quan trọng, và chỉ báo Phân kỳ hội tụ trung bình động (MACD) vẫn giao dịch dưới mức 0, mặc dù đường phẳng cho thấy động lượng giảm nhẹ hơn.
Tuy nhiên, phe giảm cần phải phá vỡ mức hỗ trợ tại các mức thấp ngày 17 và 19 tháng 12, gần 1,1700, để xác nhận sự thay đổi xu hướng. Trong kịch bản như vậy, trọng tâm sẽ chuyển sang mức cao ngày 4 tháng 12 và mức thấp ngày 11 tháng 12, khoảng 1,1680, và các mức thấp ngày 8 và 9 tháng 12 gần 1,1615.
Các nỗ lực tăng giá đã bị giới hạn ở mức 1,1764 vào đầu ngày. Xa hơn, đường xu hướng đảo ngược, ở mức 1,1785, và các mức cao ngày 16 và 24 tháng 12 trên 1,1800 có khả năng tạo ra kháng cự đáng kể.
Chỉ số người quản lý mua hàng (PMI) ngành sản xuất, được S&P Global và Ngân hàng Thương mại Hamburg (HCOB) công bố hàng tháng, là chỉ báo hàng đầu đánh giá hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất của Đức. Dữ liệu được lấy từ các cuộc khảo sát các giám đốc điều hành cấp cao tại các công ty khu vực tư nhân. Các câu trả lời khảo sát phản ánh sự thay đổi, nếu có, trong tháng hiện tại so với tháng trước và có thể dự đoán xu hướng thay đổi trong chuỗi dữ liệu chính thức như Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), sản xuất công nghiệp, việc làm và lạm phát. Là trung tâm sản xuất chính của châu Âu, dữ liệu PMI của Đức cũng có thể là chỉ báo cho sức khỏe của lĩnh vực này trên toàn lục địa. Chỉ số dao động từ 0 đến 100, với mức 50,0 cho thấy không có sự thay đổi so với tháng trước. Một chỉ số trên 50 cho thấy nền kinh tế sản xuất nói chung đang mở rộng, là dấu hiệu tăng giá cho đồng Euro (EUR). Trong khi đó, một chỉ số dưới 50 cho thấy hoạt động của các nhà sản xuất hàng hóa nói chung đang suy giảm, được coi là tín hiệu giảm giá đối với EUR.
Đọc thêmLần phát hành tiếp theo: Th 6 thg 1 02, 2026 08:55
Tần số: Hàng tháng
Đồng thuận: 47.7
Trước đó: 47.7
Nguồn: S&P Global
Chỉ số người quản lý mua hàng (PMI) ngành sản xuất, được S&P Global và Ngân hàng Thương mại Hamburg (HCOB) công bố hàng tháng, là chỉ báo hàng đầu đánh giá hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất của khu vực đồng euro. Dữ liệu được lấy từ các cuộc khảo sát các giám đốc điều hành cấp cao tại các công ty khu vực tư nhân trong lĩnh vực sản xuất. Các câu trả lời khảo sát phản ánh sự thay đổi, nếu có, trong tháng hiện tại so với tháng trước và có thể dự đoán xu hướng thay đổi trong chuỗi dữ liệu chính thức như Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), sản xuất công nghiệp, việc làm và lạm phát. Chỉ số dao động từ 0 đến 100, với mức 50,0 cho thấy không có sự thay đổi so với tháng trước. Một chỉ số trên 50 cho thấy nền kinh tế sản xuất nói chung đang mở rộng, là dấu hiệu tăng giá cho đồng Euro (EUR). Trong khi đó, một chỉ số dưới 50 cho thấy hoạt động của các nhà sản xuất hàng hóa nói chung đang suy giảm, được coi là tín hiệu giảm giá đối với EUR.
Đọc thêmLần phát hành tiếp theo: Th 6 thg 1 02, 2026 09:00
Tần số: Hàng tháng
Đồng thuận: 49.2
Trước đó: 49.2
Nguồn: S&P Global