EUR/JPY vẫn trầm lắng khi đồng yên Nhật (JPY) nhận được sự hỗ trợ từ việc ngày càng chấp nhận rằng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) sẽ kiên định với con đường bình thường hóa chính sách của mình. Cặp tiền này giao dịch quanh mức 183,00 trong giờ châu Á vào thứ Năm.
Thống đốc BoJ Kazuo Ueda cho biết vào đầu tuần này rằng BoJ sẽ tiếp tục tăng lãi suất nếu các diễn biến kinh tế và giá cả diễn ra theo dự báo. Ueda cũng cho biết việc điều chỉnh mức độ hỗ trợ tiền tệ sẽ giúp nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững và rằng lương và giá cả có khả năng tăng cùng nhau một cách vừa phải.
Thu nhập tiền mặt lao động của Nhật Bản chỉ tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước (YoY) trong tháng 11 năm 2025, giảm mạnh so với mức tăng 2,5% trong tháng 10 và không đạt kỳ vọng 2,3%. Mức tăng lương yếu nhất trong gần bốn năm được thúc đẩy bởi sự sụt giảm 17% hàng năm trong các khoản thanh toán thưởng, trong khi lương thực tế giảm 2,8% khi lạm phát vượt quá mức tăng lương, làm phức tạp kế hoạch thắt chặt của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản.
Tuy nhiên, đồng yên Nhật có thể chịu áp lực khi các nhà giao dịch trở nên thận trọng giữa những căng thẳng gia tăng giữa Nhật Bản và Trung Quốc, sau khi Bắc Kinh cấm xuất khẩu một số nguyên tố đất hiếm và các mặt hàng khác sang Nhật Bản với mục đích quân sự tiềm năng. Quan hệ đã xấu đi nghiêm trọng kể từ khi Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi cho biết một cuộc xâm lược của Trung Quốc vào Đài Loan sẽ đe dọa sự sống còn của Nhật Bản và có thể dẫn đến phản ứng quân sự từ Tokyo, theo báo cáo của CNN.
Các nhà giao dịch có thể sẽ theo dõi dữ liệu có tác động trung bình, bao gồm Đơn đặt hàng nhà máy của Đức, Khí hậu Kinh doanh khu vực đồng euro và dữ liệu Tỷ lệ Thất nghiệp vào cuối ngày. Eurostat đã công bố dữ liệu HICP sơ bộ của khu vực đồng euro cho tháng 12 vào thứ Tư, cho thấy tăng với tốc độ hàng năm là 2% trong tháng 12, như dự kiến, chậm hơn so với 2,1% trong tháng 11.
Về mặt hàng tháng, áp lực lạm phát tăng 0,2% sau khi giảm 0,3% trong tháng trước. HICP cơ bản, loại trừ các thành phần biến động như thực phẩm, năng lượng, rượu và thuốc lá, tăng với tốc độ chậm hơn là 2,3% so với cùng kỳ năm trước (YoY) so với ước tính và mức đọc trước đó là 2,4%. So với tháng trước, HICP cơ bản tăng 0,3%.
Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) là ngân hàng trung ương Nhật Bản, nơi thiết lập chính sách tiền tệ trong nước. Nhiệm vụ của ngân hàng này là phát hành tiền giấy và thực hiện kiểm soát tiền tệ và tiền tệ để đảm bảo ổn định giá cả, tức là mục tiêu lạm phát khoảng 2%.
Ngân hàng trung ương Nhật Bản đã bắt đầu thực hiện chính sách tiền tệ cực kỳ nới lỏng vào năm 2013 nhằm kích thích nền kinh tế và thúc đẩy lạm phát trong bối cảnh lạm phát thấp. Chính sách của ngân hàng dựa trên Nới lỏng định lượng và định tính (QQE), hoặc in tiền giấy để mua tài sản như trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu doanh nghiệp nhằm cung cấp thanh khoản. Vào năm 2016, ngân hàng đã tăng gấp đôi chiến lược của mình và nới lỏng chính sách hơn nữa bằng cách đầu tiên áp dụng lãi suất âm và sau đó trực tiếp kiểm soát lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm. Vào tháng 3 năm 2024, BoJ đã nâng lãi suất, về cơ bản là rút lui khỏi lập trường chính sách tiền tệ cực kỳ nới lỏng.
Gói kích thích khổng lồ của Ngân hàng đã khiến đồng Yên mất giá so với các đồng tiền chính. Quá trình này trở nên trầm trọng hơn vào năm 2022 và 2023 do sự khác biệt chính sách ngày càng tăng giữa Ngân hàng trung ương Nhật Bản và các ngân hàng trung ương chính khác, những ngân hàng đã chọn tăng mạnh lãi suất để chống lại mức lạm phát cao trong nhiều thập kỷ. Chính sách của BoJ đã dẫn đến chênh lệch ngày càng lớn với các loại tiền tệ khác, kéo giá trị của đồng Yên xuống. Xu hướng này đã đảo ngược một phần vào năm 2024, khi BoJ quyết định từ bỏ lập trường chính sách cực kỳ lỏng lẻo của mình.
Đồng Yên yếu hơn và giá năng lượng toàn cầu tăng đột biến đã dẫn đến lạm phát của Nhật Bản tăng, vượt quá mục tiêu 2% của BoJ. Triển vọng tăng lương ở nước này – một yếu tố chính thúc đẩy lạm phát – cũng góp phần vào động thái này.