Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones (DJIA) đã giảm 555 điểm, tương đương 1,1%, vào thứ Năm khi đợt chuyển hướng khỏi cổ phiếu công nghệ tiếp tục gia tăng dẫn đến một đợt bán tháo trên diện rộng. Chỉ số S&P 500 giảm 1,2% trong khi Nasdaq Composite dẫn đầu mức giảm với 1,7%, bị kéo xuống bởi sự sụt giảm mạnh của các cổ phiếu công nghệ lớn trong "Magnificent Seven". Các nhà đầu tư tiếp tục chuyển vốn vào các lĩnh vực chu kỳ hơn của thị trường, với Walmart (WMT) tăng 3% và Boeing (BA) tăng 2%, trong khi các cổ phiếu phần mềm và AI chịu ảnh hưởng nặng nề từ đợt bán tháo.
Đợt bán tháo trong lĩnh vực công nghệ đã sâu sắc hơn vào thứ Năm, với Apple (AAPL) và Amazon (AMZN) mỗi cổ phiếu giảm khoảng 3% trong phiên giao dịch. Sự yếu kém không chỉ giới hạn ở các cổ phiếu lớn, mà các cổ phiếu phần mềm cũng ghi nhận thêm một đợt thua lỗ nặng nề khi Phố Wall tiếp tục đánh giá lại quỹ đạo tăng trưởng của ngành trong bối cảnh bị gián đoạn bởi AI. Nỗi lo rằng các công cụ trí tuệ nhân tạo có thể làm giảm giá cả, tự động hóa quy trình làm việc và hạ thấp rào cản gia nhập cho các đối thủ mới đã làm rung chuyển một nhóm từng được đánh giá cao vì doanh thu đăng ký ổn định. AppLovin (APP) giảm hơn 4% mặc dù công bố kết quả quý 4 vượt kỳ vọng cả về doanh thu và lợi nhuận, cho thấy tâm lý xung quanh bất kỳ điều gì liên quan đến AI đã trở nên mong manh như thế nào. Cổ phiếu này hiện đã mất khoảng một phần ba giá trị trong sáu tuần đầu tiên của năm 2026.
Cisco Systems Inc. (CSCO) giảm khoảng 7% trong phiên giao dịch đầu tiên sau khi lợi nhuận quý hai không đạt kỳ vọng về biên lợi nhuận gộp. Gã khổng lồ mạng này công bố doanh thu 15,35 tỷ đô la và thu nhập điều chỉnh trên mỗi cổ phiếu (EPS) là 1,04 đô la, cả hai đều cao hơn một chút so với kỳ vọng, nhưng biên lợi nhuận gộp không theo GAAP là 67,5% thấp hơn so với 68,1% ước tính. Ban lãnh đạo đã chỉ ra chi phí chip nhớ tăng liên quan đến việc xây dựng trung tâm dữ liệu AI là một trở ngại chính. Công ty đã nâng dự báo doanh thu cả năm lên 61,2 tỷ đô la đến 61,7 tỷ đô la, mặc dù con số này vẫn thấp hơn mục tiêu 62,1 tỷ đô la của Phố Wall. McDonald's Corporation (MCD) cũng giảm nhẹ mặc dù công bố lợi nhuận quý bốn vượt kỳ vọng, với EPS điều chỉnh là 3,12 đô la trên doanh thu 7,01 tỷ đô la. Doanh số bán hàng tương đương tại Mỹ tăng 6,8%, tốc độ mạnh nhất trong hơn hai năm, nhưng cổ phiếu không thể thu hút được sự chú ý trong phiên giao dịch thận trọng.
Doanh số bán nhà hiện có của Mỹ giảm 8,4% so với tháng trước trong tháng 1 xuống mức điều chỉnh theo mùa là 3,91 triệu đơn vị, theo báo cáo của Hiệp hội các nhà môi giới bất động sản quốc gia (NAR) vào thứ Năm. Mức giảm này là mức giảm hàng tháng lớn nhất trong gần bốn năm, thấp hơn nhiều so với ước tính đồng thuận 4,15 triệu. Doanh số giảm ở cả bốn khu vực, với miền Nam và miền Tây ghi nhận mức giảm mạnh nhất. Kinh tế trưởng NAR Lawrence Yun chỉ ra thời tiết mùa đông khắc nghiệt có thể là một yếu tố nhưng lưu ý rằng dữ liệu cơ bản rất khó đọc trong bối cảnh điều kiện bất thường. Giá nhà hiện có trung bình tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước lên 396.800 đô la, đánh dấu tháng tăng giá hàng năm thứ 31 liên tiếp. Riêng biệt, số đơn yêu cầu trợ cấp thất nghiệp lần đầu của Mỹ cho tuần kết thúc vào ngày 7 tháng 2 là 227K, cao hơn mức 222K đồng thuận nhưng giảm so với mức 232K đã điều chỉnh của tuần trước. Số đơn yêu cầu tiếp tục tăng lên 1,862 triệu.
Dữ liệu vào thứ Năm đến sau báo cáo Bảng lương phi nông nghiệp (NFP) tháng 1 mạnh hơn mong đợi vào thứ Tư, cho thấy 130K việc làm được thêm vào so với kỳ vọng chỉ 55K. Dữ liệu lao động tốt hơn mong đợi đã đẩy lợi suất trái phiếu tăng cao và khiến các nhà giao dịch giảm bớt kỳ vọng về việc cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed đã giữ lãi suất ổn định ở mức 3,50-3,75% trong cuộc họp tháng 1, và theo Công cụ FedWatch của CME, các thị trường hiện đang định giá khoảng hai lần cắt giảm lãi suất cho năm 2026, với lần cắt giảm đầu tiên không được mong đợi cho đến tháng 6 sớm nhất. Tất cả sự chú ý giờ đây đổ dồn vào báo cáo Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vào thứ Sáu cho tháng 1, nơi các nhà kinh tế dự đoán lạm phát toàn phần sẽ giảm xuống 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Một con số nóng hơn mong đợi có thể làm giảm thêm kỳ vọng cắt giảm lãi suất và tạo thêm áp lực lên một thị trường chứng khoán đã yếu.

Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones, một trong những chỉ số thị trường chứng khoán lâu đời nhất trên thế giới, được biên soạn từ 30 cổ phiếu được giao dịch nhiều nhất tại Hoa Kỳ. Chỉ số này được tính theo giá thay vì theo vốn hóa. Chỉ số này được tính bằng cách cộng giá của các cổ phiếu thành phần và chia cho một hệ số, hiện tại là 0,152. Chỉ số này được sáng lập bởi Charles Dow, người cũng sáng lập ra tờ Wall Street Journal. Trong những năm sau đó, chỉ số này đã bị chỉ trích là không đủ đại diện rộng rãi vì chỉ theo dõi 30 tập đoàn, không giống như các chỉ số rộng hơn như S&P 500.
Nhiều yếu tố khác nhau thúc đẩy Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones (DJIA). Hiệu suất tổng hợp của các công ty thành phần được tiết lộ trong báo cáo thu nhập hàng quý của công ty là yếu tố chính. Dữ liệu kinh tế vĩ mô của Hoa Kỳ và toàn cầu cũng góp phần vì nó tác động đến tâm lý nhà đầu tư. Mức lãi suất do Cục Dự trữ Liên bang (Fed) đặt ra cũng ảnh hưởng đến DJIA vì nó ảnh hưởng đến chi phí tín dụng, mà nhiều công ty phụ thuộc rất nhiều. Do đó, lạm phát có thể là động lực chính cũng như các số liệu khác tác động đến quyết định của Fed.
Lý thuyết Dow là một phương pháp xác định xu hướng chính của thị trường chứng khoán do Charles Dow phát triển. Một bước quan trọng là so sánh hướng của Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones (DJIA) và Chỉ số trung bình vận tải Dow Jones (DJTA) và chỉ theo dõi các xu hướng mà cả hai đều di chuyển theo cùng một hướng. Khối lượng là một tiêu chí xác nhận. Lý thuyết sử dụng các yếu tố phân tích đỉnh và đáy. Lý thuyết của Dow đưa ra ba giai đoạn xu hướng: tích lũy, khi tiền thông minh bắt đầu mua hoặc bán; sự tham gia của công chúng, khi công chúng rộng rãi tham gia; và phân phối, khi tiền thông minh thoát ra.
Có một số cách để giao dịch DJIA. Một là sử dụng ETF cho phép các nhà đầu tư giao dịch DJIA như một chứng khoán duy nhất, thay vì phải mua cổ phiếu của tất cả 30 công ty thành viên. Một ví dụ điển hình là SPDR Dow Jones Industrial Average ETF (DIA). Hợp đồng tương lai DJIA cho phép các nhà giao dịch đầu cơ vào giá trị tương lai của chỉ số và Quyền chọn cung cấp quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán chỉ số với mức giá được xác định trước trong tương lai. Quỹ tương hỗ cho phép các nhà đầu tư mua một cổ phiếu trong danh mục đầu tư đa dạng của các cổ phiếu DJIA, do đó cung cấp khả năng tiếp xúc với toàn bộ chỉ số.