Cặp AUD/USD tăng vọt 1,2% lên gần 0,7060 trong phiên giao dịch châu Á vào thứ Tư. Cặp tiền tệ Úc tăng giá khi đồng Đô la Úc (AUD) vượt trội so với các đồng tiền khác, sau khi Iran chấp nhận lệnh ngừng bắn tạm thời với Hoa Kỳ (Mỹ), dẫn đến sự cải thiện đáng kể trong khẩu vị rủi ro của các nhà đầu tư.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Úc (AUD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Úc mạnh nhất so với Đô la Mỹ.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.64% | -0.77% | -0.74% | -0.32% | -1.06% | -1.20% | -0.90% | |
| EUR | 0.64% | -0.14% | -0.09% | 0.31% | -0.43% | -0.59% | -0.27% | |
| GBP | 0.77% | 0.14% | 0.04% | 0.48% | -0.26% | -0.42% | -0.13% | |
| JPY | 0.74% | 0.09% | -0.04% | 0.41% | -0.30% | -0.46% | -0.16% | |
| CAD | 0.32% | -0.31% | -0.48% | -0.41% | -0.71% | -0.85% | -0.58% | |
| AUD | 1.06% | 0.43% | 0.26% | 0.30% | 0.71% | -0.16% | 0.13% | |
| NZD | 1.20% | 0.59% | 0.42% | 0.46% | 0.85% | 0.16% | 0.29% | |
| CHF | 0.90% | 0.27% | 0.13% | 0.16% | 0.58% | -0.13% | -0.29% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Úc từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đô la Mỹ, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho AUD (đồng tiền cơ sở)/USD (đồng tiền định giá).
Hợp đồng tương lai S&P 500 đã tăng gần 2,5% trong giao dịch châu Á, phản ánh tâm lý thị trường lạc quan. Chỉ số đô la Mỹ (DXY), theo dõi giá trị đồng Đô la so với sáu đồng tiền chính, giảm hơn 0,5% ở mức khoảng 99,00.
Trước khi hết hạn thời hạn tấn công dự kiến vào Iran của Tổng thống Mỹ Donald Trump, vào thứ Ba, 20:00 giờ ET, ông đã thông báo qua một bài đăng trên Truth.Social rằng ông sẽ hoãn các cuộc tấn công trong hai tuần, vì Tehran đã đồng ý "mở hoàn toàn, ngay lập tức và an toàn Eo biển Hormuz". Trump bổ sung, "Chúng tôi đã nhận được đề xuất 10 điểm từ Iran và tin rằng đó là cơ sở khả thi để đàm phán."
Trên mặt trận chính sách tiền tệ, nhà đầu tư đang chờ đợi biên bản cuộc họp của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) về cuộc họp chính sách tháng Ba, sẽ được công bố vào cuối ngày thứ Tư. Trong cuộc họp chính sách, Cục Dự trữ Liên bang (Fed) quyết định giữ nguyên lãi suất trong phạm vi 3,50%–3,75%.
-1775618571732-1775618571734.png)
AUD/USD giao dịch cao hơn ở mức khoảng 0,7060 tại thời điểm viết bài. Cặp tiền đã mở rộng đà hồi phục trên Đường trung bình động hàm mũ (EMA) 20 ngày tại 0,6970, nghiêng về xu hướng tăng nhẹ trong ngắn hạn sau khi giữ vững vùng đáy cuối tháng Ba quanh 0,6850–0,6875. Diễn biến giá cho thấy chuỗi đóng cửa cao hơn từ vùng 0,6880, và chỉ số RSI trở lại trên mức 50 xác nhận đà tăng đang cải thiện thay vì chỉ là sự hồi phục về mức trung bình.
Mức hỗ trợ ban đầu hiện được nhìn thấy tại 0,6970, nơi EMA 20 ngày hội tụ với vùng tích lũy nhỏ gần đây, tiếp theo là mức hỗ trợ mạnh hơn tại 0,6925 và sau đó là 0,6880. Về phía trên, kháng cự ngay lập tức nằm tại 0,7120, mức đỉnh dao động cuối tháng Ba, tiếp theo là 0,7150; đóng cửa hàng ngày trên vùng này sẽ mở ra đà tiếp tục hướng tới mức cao nhiều năm quanh khu vực 0,7200. Nếu không giữ được trên 0,7000 sẽ làm suy yếu xu hướng tăng hiện tại và mở ra khả năng thoái lui sâu hơn về 0,6925.
(Phân tích kỹ thuật của bài viết này được thực hiện với sự trợ giúp của công cụ AI.)
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.